Anh hùng Măng Đa
Anh hùng Măng Đa sinh năm 1948, là người dân tộc Gia Rai, quê ở xã Phan Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Xã đội trưởng xã Phan Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Thuận Hải, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1964 đến tháng 4-1975, Măng Đa tham gia chiến đấu ở xã Phan Sơn. Đây là địa phương được giải phóng từ năm 1964, nhưng nhiều lần địch tổ chức càn quét đánh phá làng và cho máy bay rải chất độc hóa học, phá hoại hoa màu của người dân. Bằng sự mưu trí, bình tĩnh, Măng Đa đã chỉ huy du kích xã bắn rơi 20 máy bay, diệt nhiều lính bộ binh địch, thu hàng trăm súng các loại. Riêng Măng Đa đã bắn rơi 12 máy bay (11 máy bay lên thẳng, 1 máy bay F105), diệt T tên lính bộ binh, bắt 6 tên, thu 157 súng. Anh là người dùng súng bộ binh bắn rơi nhiều máy bay nhất trong toàn huyện Bắc Bình.
Tháng 2-1969, hai máy bay F105 ném bom quyết liệt xuống địa bàn xã Phan Sơn. Măng Đa cùng anh em trai bàn bạc hạ quyết tâm bắn máy bay địch. Khi máy bay bổ xuống, ba anh em đã nổ súng hạ tại chỗ một chiếc, chiếc còn lại bỏ chạy. Sau đó địch lại cho máy bay lên thẳng đến đánh phá, ba anh em lại bắn rơi tại chỗ một chiếc. Liên tiếp bốn ngày sau đó, địch cho máy bay phản lực và máy bay lên thẳng đến bắn phá khu vực xã, Măng Đa chỉ huy tổ du kích bắn rơi 4 chiếc nữa, riêng anh bắn rơi 2 chiếc (1 phản lực, 1 lên thẳng).
Ngày 20-2-1969, chỉ với 300 viên đạn súng trường, Măng Đa ngoan cường chiến đấu với 10 máy bay lên thẳng của địch. Trong quá trình chiến đấu, đồng chí bị thương ở chân nhưng vẫn kiên trì đánh địch suốt 5 giờ đồng hồ. Kết quả, Măng Đa đã bắn rơi tại chỗ 4 máy bay lên thẳng.
Ngày 5-11-1970, nhiều máy bay lên thẳng của địch đến bắn phá nhà cửa của nhân dân, Măng Đa đã chỉ huy tổ du kích kiên quyết đánh trả, bắn rơi tại chỗ 8 máy bay lên thẳng. Riêng anh bắn rơi 4 chiếc.
Cuối tháng 12-1970, hai tiểu đoàn địch càn vào xã, Măng Đa chỉ huy tiểu đội du kích kiên trì bám làng, tích cực đánh địch, diệt gần 30 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng.
Mùa xuân năm 1975, Măng Đa chỉ huy đội du kích phối hợp chặt chẽ với bộ đội đánh địch ở căn cứ sông Naho, truy quét tàn quân địch, thu vũ khí. Riêng anh đã thu được 150 khẩu súng các loại, góp phần không nhỏ bổ sung vào kho vũ khí của quân ta.
Măng Đa được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, 2 lần là Chiến sĩ thi đua. Ngày 6-11-1978, Măng Đa được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.



