Anh hùng Ngô Mây- ôm bom cảm tử tiêu diệt quân địch trong trận chiến Suối Vối vào năm 1947.
Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, biết bao người con của đất Việt đã không tiếc tuổi xuân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ quê hương, đất nước. Trong số đó, Anh hùng, liệt sĩ Ngô Mây là một tấm gương đặc biệt tiêu biểu cho tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Câu chuyện về anh không chỉ là một trang sử hào hùng mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi thế hệ hôm nay.

Anh hùng Ngô Mây- ôm bom cảm tử tiêu diệt quân địch
trong trận chiến Suối Vối vào năm 1947.
Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, biết bao người con của đất Việt đã không tiếc tuổi xuân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ quê hương, đất nước. Trong số đó, Anh hùng, liệt sĩ Ngô Mây là một tấm gương đặc biệt tiêu biểu cho tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Câu chuyện về anh không chỉ là một trang sử hào hùng mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi thế hệ hôm nay.

Anh Ngô Mây sinh năm 1924, quê ở xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (nay là xã Ngô Mây, tỉnh Gia Lai). Anh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo và mồ côi cha từ nhỏ. Năm 1945, ông tham gia Việt Minh cướp chính quyền tại huyện Phù Cát và trở thành đội viên "Đội tự vệ sắt" của làng Vân Triêm. Khi quân Pháp tái chiếm Đông Dương, ông tham gia du kích xã, chiến đấu chống quân Pháp. Tháng 4 năm 1947, anh nhập ngũ và được phiên chế vào Đại đội quyết tử của Tiểu đoàn 50, Trung đoàn 94, Khu 5. Đại đội gồm 160 chiến sĩ, trang bị 12 súng trường, 1 trung liên FM, còn lại là mã tấu, lựu đạn, chai xăng, bom ba càng và 5 quả bom (mỗi quả 25 kg). Trong thời gian huấn luyện, dù có lần bị đau chân, anh vẫn ra thao trường ngồi xem đồng đội tập để học hỏi kinh nghiệm. Điều đó cho thấy ở anh một tinh thần nghiêm túc, ý chí mạnh mẽ và sự chuẩn bị chu đáo cho ngày ra trận.
Mùa thu năm 1947, chiến trường An Khê và khu vực Bình Định diễn ra nhiều trận chiến ác liệt. Khi ấy, quân ta còn thiếu thốn vũ khí, trong khi quân Pháp có nhiều vũ khí hiện đại và xe cơ giới. Trước tình hình đó, lực lượng quyết tử được giao nhiệm vụ tìm cách đánh vào những phương tiện chiến đấu của địch. Ngô Mây đã xung phong nhận nhiệm vụ đánh bom cảm tử, dù biết rằng nhiệm vụ ấy có thể khiến mình phải hy sinh. Trước ngày lên đường, anh viết thư động viên mẹ và trao lại những đồ dùng cá nhân cho đồng đội còn thiếu thốn.
Trong trận phục kích ở Rộc Dứa (cách Suối Vối 100m, cách An Khê 3 km về phía đông bắc) ngày 22 tháng 10 năm 1947, ông là người đã ôm bom ba càng lao vào đánh xe cơ giới của quân Pháp, tiêu diệt 1 trung đội lính Âu Phi. Anh anh dũng hy sinh (vào ngày 22-10-1947) khi mới 23 tuổi.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

Sự hy sinh của Ngô Mây đã trở thành biểu tượng đẹp về lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng. Sau khi ông hi sinh, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra quyết định truy tặng cho ông Huân chương Quân công hạng Nhì. Ngày 31 tháng 8 năm 1955, ông được Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truy tặng danh hiệu Anh hùng quân đội ngay trong đợt phong đầu tiên. Tên tuổi của anh được nhân dân ghi nhớ qua những công trình tưởng niệm, trường học, đường phố và địa danh mang tên Ngô Mây.

Ngày nay, đất nước đã hòa bình, thế hệ trẻ không còn phải cầm súng ra chiến trường như cha anh ngày trước. Nhưng tinh thần của Ngô Mây vẫn còn nguyên giá trị. Đó là lòng yêu quê hương, ý thức trách nhiệm, sự kiên trì, lòng dũng cảm và tinh thần sẵn sàng vượt qua khó khăn vì những điều tốt đẹp. Với học sinh hôm nay, noi gương anh Ngô Mây không phải là tìm kiếm sự hy sinh, mà là biết trân trọng cuộc sống hòa bình, chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức, sống có trách nhiệm với gia đình và cộng đồng, đồng thời góp sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.
Câu chuyện về Anh hùng Ngô Mây đã khép lại từ nhiều thập kỷ trước, nhưng hình ảnh người chiến sĩ trẻ với ý chí kiên cường vẫn còn sống mãi trong lòng các thế hệ. Tuổi trẻ của anh đã gửi lại cho đất nước một bài học lớn: khi Tổ quốc cần, con người có thể vượt lên trên nỗi sợ hãi và lợi ích riêng để sống một cuộc đời có ý nghĩa. Chính vì vậy, mỗi chúng ta hôm nay càng phải biết ơn những người đã hy sinh và cố gắng sống, học tập, lao động thật tốt để xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước.


