Anh hùng Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ ( 1-7-1822) tại làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc phường Cầu Kho, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh). Ông xuất thân trong gia đình nhà Nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người đã sinh trưởng và có gia đình 1 vợ 2 con tại xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1820, Tả quân Lê Văn Duyệt (1764- 1832) được triều đình Huế phái làm Tổng trấn thành Gia Định, Nguyễn Đình Huy đã đi theo Tả quân để tiếp tục làm thư lại thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà Trương Thị Thiệt (người làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương) , sinh được 7 người con (4 trai 3 gái) và Nguyễn Đình Chiểu là con đầu lòng của gia đình. Nguyên Đình Chiểu được cha mẹ nuôi dạy, tới năm 6,7 tuổi ông theo học một thầy đồ trong làng. Năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt mất. Năm 1833, con nuôi Tả quân là Lê Văn Khôi làm cuộc nổi dậy chiếm thành Phiên An ở Gia Định, rồi chiếm cả Nam Kỳ. Trước sự binh biến, Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế nên bị cách hết chức tước. Vì thương con, Nguyễn Đình Huy lén trở vào Nam, đem Nguyễn Đình Chiểu gửi cho một người bạn làm Thái phó ở Huế để tiếp tục việc học. Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế (1833- 1840) từ khi 11 tuổi tới 18 tuổi thì trở về Gia Định. Năm 1843, ông trở về Gia Định, thi đỗ Tú tài, sau đó ra Huế học thêm để chờ thi Hương, nhưng được tin mẹ mất, ông trở về Gia Định chịu tang. Trên đường trở về, do khóc thương mẹ và nhiễm phong sương nên bị đau mắt đến mù. Từ đó, ông mở trường dạy học, học trò rất đông.
Năm 1859, sau khi Pháp đánh chiếm thành Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu về quê vợ tại làng Thanh Ba (Cần Giuộc). Tại đây, Nguyễn Đình Chiểu gắn bó với nghĩa quân yêu nước, ông thường xuyên thư từ liên lạc với những người lãnh đạo nghĩa quân. Thời gian ở Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã hoàn thành tác phẩmDương Từ - Hà Mậu. Và cũng trong thời gian này, ông đã viết bài văn tế nổi tiếng “Tế Cần Giuộc sĩ dân trận vong văn” (tức “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”). Ngày 14 tháng 12 năm 1861, quân Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Tân An, Gò Công.
Năm 1862,triều đình nhà Nguyễn nhu nhược ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông Nam kỳvà đảo Côn Lôn cho Pháp. Là một trong những người khởi xướng phong trào “tị địa” bất hợp tác và không sống trong vùng đất Pháp chiếm, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia quyến rời Cần Giuộc về Ba Tri, Bến Tre và sống ở đây cho đến cuối đời. Trong thời gian sống ở Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu cùng với Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt,… sáng tác thơ văn hiệu triệu anh hùng nghĩa sĩ đứng lên cứu nước và vạch mặt sự xấu xa của bọn nho sĩ đầu hàng giặc như Tôn Thọ Tường.
Biết Nguyễn Đình Chiểu có uy tín lớn trong Nhân dân nênChánh tham biện Bến TreMichel Ponchon (Misen Pông-sông) tìm mọi cách mua chuộc ông. Nhưng Nguyễn Đình Chiểu một mực cự tuyệt và khihắn nêu ý định trả đất cho ông, ông thẳng thừng trả lời: “Đất vua không ai trả thì đất riêng của tôi có sá gì”. Câu nói ấy là bằng chứng xác thực nhất về phẩm chất yêu nước, thanh cao, không màng danh lợi của nhà văn hóa lớn Nguyễn Đình Chiểu.
Năm 1886, vợ ông là bà Lê Thị Điền mất.Nỗi đau thêm chồng chất, bệnh tình Nguyễn Đình Chiểu ngày càng trầm trọng.Trong những ngày cuối đời, ông sống trong cảnh nghèo thanh bạch với sự yêu thương đùm bọc của Nhân dân. Ngày 03 tháng 7 năm 1888 (tức ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý) Nguyễn Đình Chiểu qua đời trong một căn nhà nhỏ tại làng An Bình Đông (gần chợ Ba Tri, thuộc Trị trấn Ba Tri ngày nay), thọ 66 tuổi. Nhân dân, bạn bè, học trò và con cháu đưatang ông rất đông, khăn tang trắng cả cánh đồng An Bình Đông (nay là An Đức) nơi ông yên nghỉ cuối cùng.
Nguyễn Đình Chiểu đã sống một cuộc đời theo đạo nghĩa, trong biến loạn vẫn giữ được phẩm cách thanh cao. Ông không chỉ là người con có hiếu, người thầy giáo, thầy thuốc mẫu mực, ông còn là nhà thơ yêu nước điển hình, có quan niệm văn chương nhất quán, dùng văn chương biểu hiện đạo lý và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa. Mỗi vần thơ đều ngụ ý khen chê công bằng, rạch ròi và bộc lộ một tấm lòng thương dân, yêu nước.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dù đang trong thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều tổ chức trọng thể kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của ông vào những năm tròn vừa là để tưởng nhớ đến nhà thơ lớn vừa là thông qua hình ảnh của ông, sự nghiệp văn chương của ông để tuyên truyền, giáo dục, khích lệ tinh thần Nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Từ trước đến nay, các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, nhất là truyện Lục Vân Tiên luôn được thực hiện thường xuyên, đặc biệt từ năm 1992 đến nay, tỉnh Bến Tre lấy ngày sinh và ngày mất của Cụ (ngày 01/7và ngày 03/7) làm ngày truyền thống văn hóa của tỉnh.


