ANH HÙNG NGUYỄN ĐỨC HẠNH
ANH HÙNG NGUYỄN ĐỨC HẠNH
Nguyễn Đức Hạnh (tức Nguyễn Văn Tích), sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Vũ Công, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 3 năm 1959. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy, tổ trường tổ chuyên gia thuộc Đoàn 959, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1966 đến năm 1973, Nguyễn Đức Hạnh làm nhiệm vụ giúp bạn xây dựng cơ sở cách mạng ở ven đô Viêng Chăn. Điều kiện hoạt động có nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt, sinh hoạt thiếu thốn, địch ra sức khủng bố gắt gao, lủng sục càn quét liên tục. Đồng chí quyết tâm, bền bỉ công tác, kiên trì bám đất, bám dân, cùng bạn xây dựng cơ sở cách mạng. Nhiều khi ăn rau rừng hàng tuần liền, Nguyễn Đức Hạnh vẫn đi đến từng bản; giác ngộ vận động nhân dân tham gia phong trào cách mạng. Khi địch càn quét, đồng chí tổ chức cho nhân dân sơ tán, còn mình ở lại cùng du kích đánh địch. Nguyễn Đức Hạnh đã chỉ huy tổ phối hợp với bạn xây dựng được cơ sở cách mạng, tổ chức lực lượng vũ trang, chính quyền, đoàn thể ở hai huyện ven đỏ Viêng Chăn là Bô-ri-khan và Ngọt Ngừm.
Từ tháng 1 năm 1966 đến tháng 10 năm 1968, đồng chí đã cùng tổ công tác đóng giả dân Lào vào sống hợp pháp trong vùng ven thành phố Viêng Chăn, ở đây, vì bị địch bưng bít, xuyên tạc, nên nhân dân chưa hiểu cách mạng, không tiếp cán bộ. Nguyễn Đức Hạnh cùng tổ đi vào từng bản tuyên truyền, thuyết phục từng gia đình. Lúc đầu dân còn ngại không cho ở trong nhà, phải ngủ ngoài vườn, đồng chí vẫn kiên trì bám đất, bám dân để hoạt động. Nguyễn Đức Hạnh cùng tổ xây dựng được 14 cơ sở cách mạng ở ven sông Nậm Ngừm.
Đặc biệt, trong tháng 7 năm 1967, biết địch chuẩn bị càn quét để bắt cán bộ ta vả phá cơ sở cách mạng, đồng chí chỉ huy tổ (6 người) cùng một số quần chúng tốt, chủ động tiến công thị trấn Na Hang, diệt 5 tên ác ôn, thu 4 súng, chặn đứng bàn tay tội ác của giặc và gây được lòng tin của nhân dân trong vùng.
Tháng 11 năm 1968, tổ Nguyễn Đức Hạnh mở rộng phạm vi hoạt động vũ trang tuyên truyền sang ven đường số 10, diệt 20 tên ngụy Lảo, xây dựng được cơ sở cách mạng ở 8 ban, tạo thế đứng chân vững chắc ở vùng đồng bằng tây Viêng Chăn.
Năm 1970, địch tập trung đánh phá, càn quét rất gắt gao vùng ven Viêng Chăn. Nhiều cơ sở cách mạng nằm im không hoạt động được. Đồng chí chỉ huy tổ cải trang vào sống hợp pháp trong vùng địch để trực tiếp chi đạo các cơ sở chống địch khủng bố và tiếp tục hoạt động. Nhờ đó, phong trào cách mạng ở đây được giữ vững và phát triển tốt.
Tháng 10 năm 1971, địch càn quét khu vực ven sông Nậm Lực. Sau khi tổ chức đưa 200 dân đi sơ tán, Nguyễn Đức Hạnh ở lại chỉ huy du kích diệt gần một trăm tên địch. Cuộc càn quét của địch bị thất bại, cơ sở cách mạng được giữ vững.
Năm 1972, tuy sực khỏe yếu, gia đình gặo khó khăn (vợ ốm chết để lại 2 con nhỏ), tổ chức gợi ý cho về nước, đồng chí vẫn xin ở lại cùng bạn tiếp tục củng cố và xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng vững mạnh.
Nguyễn Đức Hạnh đã thực hiện nghiêm chỉnh nhiệm vụ quốc tế của Đảng, tích cực vun đắp tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Lào - Việt, được nhân dân Lào tin yêu.
Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng ba, 8 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 19 bằng khen và giấy khen.
Ngày 31 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Đức Hạnh được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



