Anh Hùng Nguyễn Hữu Phước
Ông Huỳnh Hữu Phước sinh năm 1919 tại làng Tân Huề, trên cù lao Tây thuộc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là xã Tân Huề, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp), trong một gia đình nông dân. Ông còn có tên khác là Lê Bá và bí danh Tám Ong, trong đó, Lê Bá là tên dùng phổ biến nhất. Ông sớm có lòng yêu nước, lại được ông Nguyễn Kim Hà (Ba Nha, đảng viên năm 1930) dìu dắt, nên ông tham gia cách mạng lúc mới 14 tuổi. Với công tác giao liên, canh gác cho các cuộc họp, rải truyền đơn... ông đã hoàn thành
Huỳnh Hữu Phước
(1919 – 1974)
Ông Huỳnh Hữu Phước sinh năm 1919 tại làng Tân Huề, trên cù lao Tây thuộc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là xã Tân Huề, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp), trong một gia đình nông dân. Ông còn có tên khác là Lê Bá và bí danh Tám Ong, trong đó, Lê Bá là tên dùng phổ biến nhất. Ông sớm có lòng yêu nước, lại được ông Nguyễn Kim Hà (Ba Nha, đảng viên năm 1930) dìu dắt, nên ông tham gia cách mạng lúc mới 14 tuổi. Với công tác giao liên, canh gác cho các cuộc họp, rải truyền đơn... ông đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc nên được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 3/1936.
Năm 1940, chuẩn bị cho Nam Kỳ khởi nghĩa, ông được bầu làm Bí thư Chi bộ cù lao Tây (liên xã Tân Huề, Tân Quới, Tân Long), chỉ huy Uỷ ban khởi nghĩa. Trong lúc bố trí lực lượng du kích ba xã thì kế hoạch khởi nghĩa trong tỉnh bị lộ, Pháp lùng sục, khủng bố, bắt giam nhiều cán bộ, quần chúng cơ sở... Để bảo toàn lực lượng, trên điều ông về Rạch Giá, bố trí phụ trách Huyện uỷ viên huyện Phước Long, Bí thư chi bộ liên xã Vĩnh Bình, Vĩnh Thuận, Vĩnh Phong. Sau đó, ông được phân công làm Bí thư chi bộ công binh xưởng của Liên Tỉnh uỷ Hậu Giang, sản xuất vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa lần hai. Đến tháng 7/1941, ông được bổ sung làm Liên Tỉnh uỷ viên, phụ trách Bí thư tỉnh Rạch Giá. Đầu năm 1943, ông được phân công Phó Bí thư Liên Tỉnh uỷ Hậu Giang, phụ trách củng cố cơ sở Đảng và quần chúng ở ba tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng và Vĩnh Long.
Để chuẩn bị khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám, đầu tháng 5/1945, Tỉnh uỷ lâm thời Vĩnh Long được thành lập, ông là Bí thư.
Năm 1946, ông trở về quê nhà, là Tỉnh uỷ viên Châu Đốc, rồi Long Châu Hà, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Long Châu Hà. Vùng Long Châu Hà gồm ba tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc và Hà Tiên, về địa hình rất thuận lợi cho hoạt động của ta nhưng lại là vùng nhiều dân tộc và tôn giáo. Địch lợi dụng hai yếu tố này để kích động chia rẽ nhân dân với đó làm suy yếu tiềm lực kháng chiến nhưng dưới sự lãnh đạo của ông và Tỉnh uỷ, vượt qua mọi khó khăn, đánh bại âm mưu thâm độc của kẻ thù.
Đến tháng 9/1953, ông là quyền Bí thư, rồi Bí thư Tỉnh uỷ Long Châu Hà cho đến ngày đình chiến tháng 7/1954.
Sau năm 1954, ông được phân công ở lại miền Nam, phụ trách Uỷ viên Ban Nông vận và Uỷ viên Ban Vận động Hoà Hảo khu 8 từ 1959 đến 1974.Kháng chiến chống Mỹ diễn ra trong điều kiện ác liệt đầy cam go thử thách nhưng ông vẫn kiên cường vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, cùng với Khu uỷ thực hiện thành công nhiệm vụ vận động đồng bào các tôn giáo đoàn kết cùng tham gia mặt trận dân tộc, làm thất bại âm mưu chia rẽ dân tộc, tôn giáo của kẻ thù, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước.
Năm 1974, do sức khoẻ yếu, ông được Trung ương đưa ra miền Bắc trị bệnh, ngày 04/11/1974, ông qua đời. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tỉnh uỷ An Giang và gia đình đã đưa hài cốt ông về cải táng tại Nghĩa trang thành phố Long Xuyên.
Quá trình tham gia và cống hiến cho cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Nhì, Ba.



