ANH HÙNG NGUYỄN PHÚ VỴ – NGƯỜI ANH HÙNG TUỔI BÁCH NIÊN VÀ NGHĨA TÌNH ĐỒNG CHÍ SẮT SON
Giữa bãi giữa sông Hồng lộng gió hay nơi núi rừng trận mạc hiểm nguy, câu chuyện về cuộc đời Đại tá, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Phú Vỵ luôn là một khúc tráng ca bất tử về lòng yêu nước sục sôi và tình đồng đội thiêng liêng. Đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, gánh trên mình những vết thương rách nát bởi bom đạn quân thù, người lính già ấy vẫn vẹn nguyên cốt cách dung dị, nghiêm túc và một trí tuệ minh mẫn sắt đá. Suốt một đời tận tụy hy sinh, ông không chỉ là nỗi kinh hoàng của thực dân Pháp trên các mặt trận đồng bằng Bắc Bộ, mà còn là người thầy thầm lặng huấn luyện nên hàng vạn chiến sĩ tinh nhuệ tiến vào giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Ông Nguyễn Phú Vỵ sinh năm 1924 tại vùng đất bãi giữa sông Hồng thuộc làng Phúc Xá xưa (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội). Lớn lên trong cảnh lầm than vất vả dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, năm 15 tuổi, ông vào làm công nhân tại Nhà máy điện Yên Phụ. Chứng kiến cảnh đồng bào bị đàn áp, ức hiếp dã man, ngọn lửa căm hờn trong lòng người thanh niên trẻ tuổi đã bùng lên mạnh mẽ, đưa ông đến với Mặt trận Việt Minh và Đoàn Thanh niên Cứu quốc vào năm 1943.
Mùa thu năm 1945, khi cả dân tộc vùng lên trong cơn bão táp cách mạng, Nguyễn Phú Vỵ đã hăng hái đứng vào hàng ngũ những công nhân đi đầu. Ông cùng anh em tiếp quản nhanh gọn Nhà máy điện Yên Phụ và trại lính bảo an, thu giữ toàn bộ kho giấy quý giá của Pháp giao lại cho chính quyền cách mạng non trẻ dưới chân núi Sài Sơn (Quốc Oai).
Mùa đông năm 1946, đáp lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chàng trai 22 tuổi quyết định khai tăng thêm hai tuổi để đủ điều kiện nhập ngũ, gác lại giọt nước mắt của mẹ để bước vào cuộc trường chinh vĩ đại bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc.
Những năm tháng bôn ba khắp các mặt trận, khó khăn lớn nhất của quân ta là vũ khí, trang bị thô sơ trong khi hỏa lực địch vô cùng tối tân, xảo quyệt. Không chịu khuất phục, Nguyễn Phú Vỵ đã trực tiếp tham gia hơn 30 trận đánh lớn nhỏ dọc dải đồng bằng Bắc Bộ cho đến vùng rừng núi hiểm trở Sơn La, Hòa Bình, luôn thể hiện tư duy quân sự mưu trí và tinh thần quả cảm, kiên cường.
Chiến công oanh liệt nhất của ông gắn liền với trận Trung Thứ (Hà Nam) năm 1951, khi ông dũng cảm dẫn đầu trung đội băng qua mưa bom bão đạn, đột kích thẳng vào sở chỉ huy địch, nổ súng tiêu diệt tên quan ba và bắt sống toàn bộ ban chỉ huy, diệt gọn một trung đội ngụy. Đến năm 1952, trong trận tiến công thị trấn Phát Diệm (Ninh Bình), ông lại mưu trí chỉ huy đơn vị bí mật vượt rào gai, đánh sập khu điện đài và sở chỉ huy then chốt, chiếm giữ trận địa vững chắc tạo bàn đạp cho toàn trung đoàn bao vây diệt gọn 7 đại đội tinh nhuệ của địch.
Bước ngoặt lớn trong cuộc đời binh nghiệp của ông là khi được cử đi đào tạo tại Trung Quốc, rồi nhận nhiệm vụ quốc tế cao cả làm cố vấn quân sự cho Bộ Quốc phòng nước bạn Lào. Sau năm 1954, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, người lính ấy lại gánh vác trọng trách nặng nề: làm Hiệu phó Trường Quân chính Quân khu 3, phụ trách công tác tuyển quân và huấn luyện.
Từ "lò luyện quân" nghiêm khắc và đầy nghĩa tình của ông, những đơn vị hùng mạnh như Sư đoàn 320, Sư đoàn 325B với 10 tiểu đoàn tinh nhuệ đã được tôi luyện bản lĩnh thép, kiên cường chia lửa cho mặt trận Quảng Trị, đường 9, Tây Nguyên và oanh liệt tiến vào giải phóng Sài Gòn mùa xuân năm 1975.
Suốt cuộc đời chinh chiến, điều khiến ông đau đáu nhất chính là nghĩa tình đồng đội sâu nặng. Ông không bao giờ quên trận đánh giải phóng Hải Hậu năm 1954, khi ông nhường tư trang để mang hộ người chiến sĩ nhỏ con tên Bảo và dặn đồng đội ăn nắm cơm tiếp sức. Người chiến sĩ ấy nhìn ông mỉm cười hẹn "để dành sáng mai ăn cho đỡ nhớ nhà", thế nhưng cái hẹn ấy mãi mãi dở dang khi anh dũng cảm hy sinh ngay trong trận đánh khốc liệt, để lại nắm cơm ấp trên bụng vẫn còn hơi ấm nồng đượm tình đồng chí, đồng bào.
Với những cống hiến kiệt xuất và bề dày thành tích lẫy lừng, ngày 31/8/1955, Đại tá Nguyễn Phú Vỵ vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, cùng hàng loạt phần thưởng cao quý khác như Huân chương Quân công hạng Ba và ba lần Huân chương Chiến công.
Sau ngày non sông thống nhất, người anh hùng đất Phúc Xá năm xưa trở về cuộc sống đời thường bình dị bên người vợ hiền tần tảo Nguyễn Thị Thành tại ngôi nhà cấp bốn ngập tràn cây xanh ở Ngọc Thụy. Tuy đã sống gần trăm tuổi, thỉnh thoảng chịu đau đớn bởi vết thương hành hạ lúc trái gió trở trời, trong ông vẫn còn vẹn nguyên cốt cách, tác phong nghiêm túc, kỷ luật của người lính mà vẫn rất đỗi giản dị, chân chân thành. Những người đồng đội của ông ngày nào giờ đã ra đi gần hết, lớp con cháu sau này từng được ông đào tạo, huấn luyện vào những dịp kỷ niệm thành lập đơn vị, ngày truyền thống sư đoàn, dịp 27-7 vẫn đến thăm ông, cùng ôn lại truyền thống anh hùng của lớp người muôn năm cũ.
Mái tóc đã bạc trắng như cước, ông vẫn tiếp tục cống hiến khi là người đầu tiên tham gia thành lập Hội Cựu chiến binh phường, tham gia dạy dỗ, truyền lửa cách mạng và lòng tự hào dân tộc cho biết bao thế hệ trẻ thơ. Cuộc đời ông cùng người em họ là Anh hùng Nguyễn Phú Xuyên Khung đã trở thành niềm tự hào bất diệt của dòng họ, là tượng đài sống sáng ngời về ý chí kiên trung của người lính Bộ đội Cụ Hồ trọn đời vì nước vì dân.


