Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

anh hùng Nguyễn Sơn

Nguyễn Sơn quê tại xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm (nay là xã Gia Lâm), thành phố Hà Nội. Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1908 và mất ngày 21 tháng 10 năm 1956. Ông là con của Vũ Trường Xương, một nhà tư sản ở Hà Nội. Khi mới lên 5 tuổi ông đã bắt đầu học tiếng Pháp tại một trường Dòng ở Hà Nội. 14 tuổi ông thi đậu vào Trường Sư phạm Hà Nội. Ông thường tổ chức học sinh trường Sư phạm và trường Bảo Hộ sang đánh nhau với học sinh con Tây tại các trường khác. Cha mẹ ông đã cho ông lập gia đình với bà Nguyễn

Quảng Ngãi06/04/2026Đoàn Thanh niên xã Đình Cương (Đoàn Thanh niên xã Đình Cương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 11 năm 1945, ông trở về nước hoạt động theo đề nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy tên mới là Nguyễn Sơn và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông từng làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam (đến 20 tháng 11 năm 1946, được thay bởi Lê Thiết Hùng),[4] Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến miền Nam Trung Bộ (ngày 16 tháng 7 năm 1946),[5] Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng (ngày 20 tháng 11 năm 1946),[4] Tư lệnh kiêm Chính ủy hai Liên khu 4 và 5, Hiệu trưởng Trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi (1946), Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Quốc phòng (30/1/1947-)[6], Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4 (1948-1949). Ngày 10 tháng 7 năm 1947 Nguyễn Sơn làm Khu trưởng Chiến khu IV thay thiếu tướng Lê Thiết Hùng.[7]

Trong sách Tướng Nguyễn Sơn, NXB Lao Động xuất bản năm 1993, trong bài viết của GS Vũ Tuấn một người cháu của Tướng Nguyễn Sơn cho biết bà Ngọc Anh tức Kiếm Qua sống đến năm 80 tuổi và hai con trai của ông là Hàn Phong và Tiểu Việt vẫn còn sinh sống học tập ở Trung Quốc. Được biết bà Trần Kiếm Qua hay Trần Kiếm Mậu còn là Thành ủy viên Bắc Kinh.

Ông cưới bà Huỳnh Thị Đổi. Hai người sinh được cô con gái Nguyễn Mai Lâm, do nhiều nguyên nhân hai người đã chia tay. Cũng trong năm này, ông kết hôn với bà Lê Hằng Huân. Mối lương duyên này do Nguyễn Đình Ngân, thành viên Ủy ban hành chính Liên Khu IV, về sau là Đại biểu Quốc hội mai mối. Ông có bốn người con với bà: Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Cương, Nguyễn Việt Hồng và Nguyễn Việt Hằng. Trong đó bà Nguyễn Thanh Hà học tại Học viện Kỹ thuật Quân sự ra trường công tác tại Bộ Tư lệnh Thông tin và về hưu với quân hàm trung tá. Bà Nguyễn Việt Hồng thì mắc bệnh tâm thần được điều trị dài hạn tại bệnh viện.

Năm 1948, ông được Nhà nước Việt Nam phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên. Cùng được phong thiếu tướng trong đợt này có 8 quân nhân khác. Theo giai thoại lưu truyền, khi biết mình chỉ được phong thiếu tướng, ông tỏ vẻ không hài lòng và không muốn nhận. Ông gửi công văn hỏa tốc cho Hồ Chí Minh để từ chối nhận quân hàm. Nhận được công văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lên tấm các của mình: "Gửi Sơn đệ" với 12 chữ Hán: "Đảm dục đại, Tâm dục tế, Trí dục viên, Hành dục phương(đại ý: Người làm tướng, cái gan cần phải lớn; cái tâm nên tế nhị, chính chắn; cái trí phải suy nghĩ trước sau, toàn diện; cái đức hạnh, hành động phải đầy đủ, ngay thẳng, cương trực) khiến ông chấp nhận. Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch thay mặt Chính phủ vào Thanh Hóa làm lễ tấn phong ông.Năm 1950, ông trở lại Trung Quốc công tác, làm Cục phó Cục Điều lệnh Tổng giám bộ huấn luyện Quân Giải phóng Nhân dân. Được xem là một trong 72 đại công thần Trung Quốc, ngay trong đợt phong quân hàm đầu vào ngày 27 tháng 9 năm 1955, ông được nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phong quân hàm thiếu tướng. Ông cũng được chính phủ Trung Quốc tặng Huân chương Giải phóng hạng nhất. Ông được mệnh danh là Lưỡng quốc tướng quân là người Việt Nam duy nhất được phong quân hàm tướng của hai quốc gia độc lập.Năm 1956, do khối u ác tính nằm bên phổi trái, ông biết mình không còn sống được lâu nên xin trở về quê hương. Ông rời Bắc Kinh ngày 27 tháng 9, được nguyên soái Bành Đức Hoài, nguyên soái Diệp Kiếm Anh và nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp Trung Quốc ra ga tiễn về đến Hà Nội ngày 30 tháng 9. Ông mất tại Hà Nội sau đó không lâu, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn