ANH HÙNG NGUYỄN THẾ ĐOÀN
Nguyễn Thế Đoàn ( tức Hai Thủy), sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Phú A, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, nhập ngũ nãm 1953. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là y sĩ, đội phó đội phẫu thuật tiền phương tỉnh Bến Tre, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sinh trưởng trong một gia đình có cha và em tham gia kháng chiến, năm 14 tuổi Nguyễn Thế Đoàn đã tham gia dân quân ở địa phương, năm 15 tuổi vào quân đội. Thời gian đầu, đồng chí được phân công làm các nhiệm vụ liên lạc, trinh sát ở Đồng Tháp Mười, sau được cấp trên cho đi học cứu thương. Năm 1954, đồng chí tập kết ra miền Bắc, được đào tạo trở thành quân y sĩ. Năm 1962, Nguyễn Thế Đoàn trở về Bến Tre, làm đội trường đội phẫu thuật tiền phương của tỉnh.
Đồng chí đã cùng anh em trong đội cứu chữa hơn 1.000 thương binh trong đó có trên 400 trường hợp bị thương vừa và nặng, tiến hành 55 ca giải phẫu; góp sức xây dựng tổ phẫu thuật cấp cứu và đào tạo được 17 người có trình độ chuyên môn tốt. Nguyễn Thế Đoàn đã cùng đội phẫu thuật nhiều lần dũng cảm chiến đấu, bảo vệ thương binh, toàn đội diệt 45 tên địch (có 22 tên Mỹ), làm bị thương 30 tên khác, bắn rơi 6 máy bay lên thẳng, bắn bị thương 6 chiếc khác. Riêng Nguyễn Thế Đoàn, với sự phối hợp chiến đấu của đồng đội, đã diệt được 6 tên Mỹ, 4 tên ngụy, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng và bắn bị thương 4 chiếc khác.
Do trình độ chuyên môn có hạn, dụng cụ thiếu thốn, trong mấy năm đầu Nguyễn Thế Đoàn phải ra sức vượt qua biết bao khó khăn về dụng cụ và trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ. Năng lực chuyên môn nhanh chóng tiến bộ, đồng chí đã thành công trong các ca mổ khó khăn như thủng ruột, vỡ thận và đưa tỷ lệ tử vong giảm hẳn xuống.
Trong trận tiến công thị xã Bến Tre đầu mùa Xuân năm 1968, khi được tin có thương binh bị kẹt trong thị xã, đồng chí đã xin cấp trên cho đưa một tốp mổ vào phục vụ. Trên đường vào thị xã, địch phản kích chặn đường rất gắt gao, nhưng đồng chí vẫn cùng một số anh em len lỏi vào được vị trí quy định. Mặc dù thiếu hẳn một nửa tốp mổ không vào được Nguyễn Thế Đoàn vẫn kiên quyết tổ chức, động viên anh em làm việc và vận động bà con trong thị xã giúp đỡ, lo liệu chỗ nghỉ cho anh em thương binh. Đồng chí không quản khó khăn nguy hiểm xông pha dưới bom đạn địch, cùng với anh em trong tổ băng bó cho 82 thương binh và tổ chức đưa anh em ra vùng giải phóng an toàn.
Trong đợt tiến công vào thị xã Bến Tre lần thứ 2, lúc Nguyễn Thế Đoàn đang mổ một ca vỡ lá lách thì bom nổ rất gần, hất anh ngã xuống đất. Khi vùng dậy được, Nguyễn Thế Đoàn tiếp tục mổ. Ngay sau đó, trong một ca mổ vết thương ở bụng, công việc đang tiến hành thì một quả bom na-pan nổ, nhà bị cháy. Nguyễn Thế Đoàn buộc phải cùng kíp mổ tạm khép vết mổ lại rồi làm những động tác kỹ thuật cần thiết, sau đó di chuyển sang hầm khác tiếp tục mổ. Hành động mau lẹ, bình tĩnh của anh đã cứu sống được đồng đội trong hoàn cảnh cực kỳ ác liệt. Suốt 5 ngày đêm liền, thiếu ăn, thiếu ngủ, Nguyễn Thế Đoàn vẫn không ngừng làm việc. Có lúc cần phải cấp tốc tiếp máu cho thương binh, đồng chí không ngần ngại đã tự trích máu mình tiếp cho đồng đội.
Không những làm công tác chuyên môn giỏi, Nguyễn Thế Đoàn còn là một chiến sĩ dũng cảm, mưu trí, tích cực diệt địch, bảo vệ thương binh. Trong trận Mỹ Long (tháng 10 năm 1967), đang giải phẫu thì 1 tiểu đoàn địch đổ xuống gần trạm. Tình thế hết sức khẩn trương Nguyễn Thế Đoàn xử trí mau lẹ và dũng cảm: tạm khâu vết mổ, tổ chức chiến đấu và chuyển thương binh về địa điểm phía sau, đến vị trí mới cuộc giải phẫu sẽ tiếp tục. Trong cuộc di chuyển thắng lợi đó, đồng chí luôn luôn có mặt ở chỗ khó khăn nhất.
Hôm sau, địch lại sục sạo đến gần khu rừng đội trú quân. Đồng chí tổ chức và động viên mọi người sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thương binh. Không chịu bị động ngồi chờ địch đến gần, Nguyễn Thế Đoàn phân công người ở nhà chỉ huy đơn vị, rồi tự mình xách tiểu liên đi bám sát địch. Đến gần bãi thu quân của địch ở bìa rừng, lợi dụng chúng sơ hở, Nguyễn Thế Đoàn bất ngờ nổ súng vào máy bay lên thẳng, bắn cháy 3 chiếc, diệt 2 tên ngụy, làm 3 tên khác bị thương. Số máy bay còn lại phải bay vọt lên, chuyển sang thu quân ở một bãi khác xa hơn. Do đó địa điểm trú quân giữ được bí mật, thương binh an toàn. Trong quá trình làm công tác chuyên môn gần mặt trận, thường gặp quân địch, Nguyễn Thế Đoàn đã nhiều lần dẫn đầu tổ xung kích của đội phẫu thuật đánh địch, chặn đứng cả đại đội địch để bảo vệ thương binh.
Nguyễn Thế Đoàn luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác và sinh hoạt, nghiêm chỉnh chấp hành mọi mệnh lệnh của trên, hết lòng thương yêu đồng đội, tận tình giúp đỡ nhân dân, được anh em tin yêu, đồng bào mến phục.
Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 6 bằng khen, 3 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh.
Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Thế Đoàn được Chmh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



