Anh Hùng Nguyễn Thị Bình (1)
Nguyễn Thị Bình (tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927) là một nữ chính trị gia, Anh hùng Lao động người Việt Nam. Bà được biết đến khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị bốn bên về hoà bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968–1973. Bà là một trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút k
Trong những ngày của tháng 4 lịch sử, cờ hoa nhuộm đỏ từng nẻo đường, góc phố và lan rộng rãi trên mạng xã hội. Clip tư liệu về các nhà cách mạng lừng danh của Việt Nam được lan tỏa mạnh mẽ, trong đó có những hình ảnh sống động về những nhà ngoại giao tài ba. Một trong số đó là hình ảnh bà Nguyễn Thị Bình thông minh, sắc bén và đặc biệt là tự tin hiên ngang trên bàn đàm phán ký kết Hiệp định Paris năm 1973, với những phát ngôn khiến cả thế giới sửng sốt, như: “Người Mỹ có thể lên Mặt trăng và trở về an toàn. Còn sang Việt Nam, thì chúng tôi không chắc”.
Giờ đây, khi ở tuổi gần 100, bà Nguyễn Thị Bình vẫn tự tay sửa, bổ sung hồi ký Gia đình, bạn bè và đất nước. Cuốn sách tái bản đúng dịp kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước gói ghém cả cuộc đời, sự nghiệp cách mạng sôi nổi và nêu bật chân dung của người phụ nữ vĩ đại nhưng bình dị, được đông đảo bạn bè thế giới yêu mến, ngưỡng mộ.
Là cháu ngoại của cụ Phan Chu Trinh, cháu nội của một nghĩa binh của phong trào Cần Vương, bà Nguyễn Thị Châu Sa (sau này đổi tên thành Nguyễn Thị Bình) sinh trưởng trong gia đình giàu truyền thống cách mạng. Bà Nguyễn Thị Bình, tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26/5/1927, sinh ra tại quê hương Quảng Nam (nay là TP Đà Nẵng).
Từ nhỏ, Nguyễn Thị Bình theo học tại trường Lycee Sisowath ở thành phố Phnôm-Pênh, thủ đô Cam-pu-chia và tốt nghiệp tú tài tại đây. Năm 1945, vừa thi hết Tú tài phần I, Nguyễn Thị Bình bắt đầu hoạt động yêu nước trong các phong trào học sinh, sinh viên, phụ nữ yêu nước, vận động trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1948, sau khi được kết nạp Đảng, bà được giao thêm nhiệm vụ vận động phụ nữ trí thức, tham gia các hoạt động hợp pháp tại thành phố, thành lập Hội phụ nữ cấp tiến. Sau này, bà tham gia chỉ đạo các hoạt động công khai, hợp pháp tiêu biểu như cuộc chống địch giải tỏa xóm lao động Bàn Cờ, cuộc biểu tình để tang Trần Văn Ơn (ngày 09-01-1950), cuộc biểu tình phản đối tàu chiến Mỹ đến Sài Gòn. Trong các cuộc đấu tranh này, bà luôn là người có mặt ở tuyến đầu, nên đồng bào, đồng chí hoạt động nội thành thường gọi bà là “chuyên gia biểu tình”.
Tháng 4-1951, bà bị địch bắt giam tại Khám Lớn (Sài Gòn), với tội “cầm đầu gây rối, phản nghịch chống chính quyền”, sau đó bị chuyển về Khám Chí Hòa, giam gần 3 năm. Sau khi ra tù, bà tiếp tục hoạt động trong phong trào đấu tranh cho hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tổ chức. Một thời gian sau, bà tập kết ra miền Bắc, công tác tại Hội Liên hiệp phụ nữ Trung ương.
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Đầu năm 1961, bà được cử sang tham gia hoạt động ngoại giao cho Mặt trận và đổi tên từ Yến Sa (bí danh được bà sử dụng từ năm 1948) sang Nguyễn Thị Bình để giữ bí mật và để quốc tế dễ đọc tên hơn. Từ đây, thế giới biết đến một nữ chính trị gia Nguyễn Thị Bình với cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị bốn bên tại Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Tinh thần yêu nước, tấm lòng vì nước, vì dân, ý thức trách nhiệm, đó có lẽ là những ngôn từ đúng đắn nhất, chính xác nhất dành cho Nguyễn Thị Bình - bà đầm thép trên bàn đàm phán của dân tộc ta. Ở bà có sự kết hợp đặc biệt giữa bình dân với tinh hoa, giữa giản dị và sang trọng, mềm mại và kiên định. Đó là một người có sức trẻ tâm hồn và trí tuệ, kết hợp sự kiên định và dám chấp nhận thay đổi, tiếp nhận cái mới. Một biểu tượng sáng ngời về phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam, đây là những lời nhận xét của người đã từng làm việc với bà chia sẻ lại. Đủ thấy sức hấp dẫn và sự đặc biệt của một con người Việt Nam chân chính, hội tụ hầu hết những phẩm chất cao quý nhất của dân tộc.
Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973, tuy nhiên phái đoàn Việt Nam trải qua gần 5 năm đấu tranh ngoại giao cam go. Khi rời Hà Nội sang Pháp vào cuối năm 1968, không thành viên nào trong đoàn nghĩ tới quãng thời gian đằng đẵng đấu tranh ngoại giao bền bỉ như vậy. Bà Nguyễn Thị Bình đã luôn kể lại cuộc đấu tranh lịch sử bằng ngôn ngữ giản dị, cô đọng và trung thực.
“Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, vừa đấu trí, vừa đấu lý và lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi”, bà kể. Không ít lần phải đối diện với những câu hỏi khó, nhưng chẳng lần nào bà nao núng, một phần là do lí tưởng và sự thật đúng đắn, chính nghĩa luôn đứng về phía chúng ta và một phần cũng quan trọng không kém, là sự thông minh, sắc sảo bên trong bà, chính điều ấy đã làm nên tên tuổi của Nguyễn Thị Bình.
“Tôi là người hạnh phúc”, bà Nguyễn Thị Bình khẳng định. Bà đã lấy được người mình yêu, và đó cũng là mối tình đầu dù hai người gặp gỡ và phải xa cách, bặt tin nhau tới 9 năm trong kháng chiến chống Pháp. Hai ông bà thường xa nhau, nhưng bà Nguyễn Thị Bình khẳng định, tình nghĩa giữa hai người đã giúp bà đứng vững và hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình hoạt động cách mạng, con còn nhỏ thường xuyên xa mẹ, hoặc trong thời gian ra nước ngoài đàm phán, bà được chồng động viên, cố gắng một mình chăm sóc hai con nhỏ.
“Cũng có thể nói tôi có một cuộc đời rất lạ: không thể tách ảnh hưởng và tình thương của gia đình trên mỗi bước đường nhiều nỗi gian truân của mình. Đó là sức mạnh và cũng là hạnh phúc của đời tôi”, bà viết trong hồi ký “Gia đình, bạn bè và Đất nước”. Có lẽ vì sức mạnh ấy quá đỗi to lớn, nên những thể hiện của bà đã gây được ấn tượng rất mạnh mẽ, đến mức được báo chí phương Tây gọi là “bóng hồng khiêu vũ giữa bầy sói”, hay như một câu nói rất hay của ta để nhắc nhớ về bà đó là “Hòa bình quý tựa Châu Sa”, hai cái tên, một con người, một sự hiện diện vĩ đại, một tinh thần hết lòng phụng sự Tổ quốc, nhân dân.
Câu nói này đã được bà dùng cả cuộc đời hoạt động của mình để chứng minh ý nghĩa, theo dõi cuộc đời cao đẹp của bà ta càng thấy rõ hòa bình, tự do, vị thế của ngày hôm nay không phải tự nhiên mà có, mà đến từ sự tài hoa, đóng góp, hi sinh của bao người như bà, chúng ta - những người trẻ, thế hệ tiếp nối của dân tộc Việt Nam càng phải học tập, noi gương, phấn đấu để xứng đáng với những cuộc đời đã đi vào huyền thoại nhưng vẫn sẵn sàng ra đi, hi sinh vì hòa bình mà ta được hưởng bây giờ.


