ANH HÙNG NGUYỄN THỊ ĐỊNH
Nguyễn Thị Định sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, tham gia cách mạng năm 1936. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là Thiếu tướng, Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam. Sau năm 1975, đồng chí Nguyễn Thị Định là ủY viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa IV, V, VI). Đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ
Nguyễn Thị Định sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân giàu lòng yêu nước, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1936, mới 16 tuổi Nguyễn Thị Định đã tham gia hoạt động cách mạng, làm liên lạc cho Đảng bộ xã và tham gia vận động quần chúng đấu tranh. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí đã từng giữ các chức vụ Ủy viên Ban chấp hành phụ nữ cứu quốc tỉnh Bến Tre, Phó bí thư rồi Bí thư huyện ủy Mỏ Cày, Thường vụ tỉnh ủy, Phó bí thư rồi Bí thư tỉnh ủy Bến Tre, Khu ủy viên Khu 8, Bí thư Đảng đoàn phụ nữ Khu 8, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam, Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, ủy viên Quân ủy Miền. Ở cương vị công tác nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tâm, tận lực với phong trào cách mạng.
Những thời kỳ khó khăn ác liệt Nguyễn Thị Định đã phải cải trang nhiều lần, đóng nhiều vai của cuộc đời thường, khôn khéo tìm cách hòa nhập vào dân, bám đất, bám dân để lãnh đạo phong trào chờ thời cơ nổi dậy.
Trong chiến đấu đồng chí dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, có mặt ở khắp các chiến trường miền Nam với cương vị vừa là người chỉ huy quân sự, vừa là người lãnh đạo chính trị, vừa là người lãnh đạo "đội quân tóc dài" góp công làm nên chiến thắng oanh liệt ở miền Nam.
Năm 1940 do mật thám chỉ điểm, Nguyễn Thị Định bị địch bắt giam ở khám lớn Sài Gòn, sau đó chúng đầy đồng chí đi nhà tù Bà Rá nơi rừng sâu nước độc. Suốt 3 năm tù đày với bao cực hình tra tấn dã man của địch, Nguyễn Thị Định vẫn không hề nao núng, giữ vững khí tiết người cộng sản, kiên cường đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Năm 1943 ra tù, Nguyễn Thị Định về địa phương tiếp tục hoạt động.
Năm 1946, đồng chí là thành viên của đoàn cán bộ Nam Bộ vượt biển ra miền Bắc báo cáo với Bác và Trung ương về tình hình Nam Bộ sau Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, đồng thời xin Trung ương vũ khí trang bị cho chiến trường miền Nam. Được Trung ương và Bác chấp thuận, Nguyễn Thị Định đã tham gia tổ chức đường dây và trực tiếp chỉ huy con tàu "Không số" với đội "cảm tử quân" vượt phong ba bão táp, qua nhiều vùng kiểm soát của địch trên biển Đông, xử trí nhiều tình huống bát ngờ và phức tạp đưa được 10 tấn vũ khí đạn dược, sách báo, tài liệu cùng với tiền của Trung ương, của Bác gửi cho Nam Bộ cập bến an toàn.
Năm 1960, đồng chí đã lãnh đạo Đảng bộ và quân, dân tỉnh Bến Tre nổi dậy đập tan hệ thống kìm kẹp của địch ở nông thôn, giải phóng hoàn toàn 51/115 xã, giải phóng 1 phần 21 xã, nhân dân làm chủ 300/500 "ấp chiến lược", loại khỏi vòng chiến đấu 3800 tên địch, diệt 100 tên, thu 1700 súng các loại và 10 máy thông tin. Nguyễn Thị Định trực tiếp chỉ huy "Đội quân tóc dài" cùng với lực lượng vũ trang chiến đấu kiên cường dũng cảm đập tan trận càn của thủy quân lục chiến với 13 ngàn quân tinh nhuệ, kết hợp với các loại tình báo của Mỹ, ngụy trên quê hương 3 dãy cù lao, xứng danh là "Nữ chiến sĩ rừng dừa" của quê hương đồng khởi.
Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, đồng chí tiếp tục đảm đương nhiều chức vụ quan trọng: Thứ trưởng Bộ Thương binh - Xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó chủ tịch Liên đoàn phụ nữ thế giới. Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba. Đồng chí là một trong những người phụ nữ tiêu biểu của Việt Nam, là người lãnh đạo có uy tín được nhân dân, cán bộ, chiến sĩ cùng đông đảo bạn bè và nhân dân thế giới tin yêu, kính trọng.
Với tinh thần trung kiên cách mạng, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ, với đức tính khiêm nhường trong cuộc sống hàng ngày, với lòng vị tha nhân hậu, dịu hiền, đức độ gắn bó mật thiết với nhân dân, Nguyễn Thị Định đã dũng cảm chịu đựng sự tù đày và tra tấn dã man của địch, vượt lên trên những mất mát đau thương của một người vợ, người mẹ để hăng hái làm việc vì Đảng, vì Cách mạng, vì nhân dân đến hơi thở cuối cùng.
Đồng chí Nguyễn Thị Định đã được khen thưởng: 1 Huân chương Hồ Chí Minh, 1 Huy hiệu Hồ Chí Minh, 1 Huân chương Quyết thắng hạng nhất, 1 giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lê-nin, 1 Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, 1 Huân chương của Nhà nước Lào, 1 Huân chương Đi-vi-trốp của Nhà nước Hung-ga-ri, 4 Huân chương BLQYQ GIRON, Far, Solidaredad và Mariana Grajals của Nhà nước Cu Ba, 1 Huy hiệu Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.



