Anh hùng Lực lượng vũ trang

ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THANH XUÂN.

Tuổi thơ và cách mạng Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo trên quê hương giàu truyền thống cách mạng, 14 tuổi (đầu năm 1945), Nguyễn Thị Thanh Xuân tham gia vào Đội Thiếu niên tiền phong cứu quốc xã Bình Đẳng, huyện Bình Chánh, tỉnh Gia Định (cũ). Tuổi trẻ hăng say trong các hoạt động phong trào đoàn thể, được cán bộ địa phương tận tình giúp đỡ, từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến tháng 10-1954, Nguyễn Thị Thanh Xuân lần lượt giữ các chức vụ Thư ký Hội Phụ nữ cứu quốc, Phó thư ký Ban Chấp

Cần Thơ29/01/2026Cao Văn Tuấn (Cao Văn Tuấn-Phường Tân Lộc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau đôi mắt sáng, trí nhớ của bà thật tuyệt vời khi điểm lại những dấu son đáng ghi nhớ đầy tự hào trong cuộc đời từ khi bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Nhắc lại những năm tháng đầy sôi nổi và hào hùng đó, bà chậm rãi:

- Đúng ra lễ kết nạp tôi và một số đồng chí nữa vào Đảng là vào dịp sinh nhật lần thứ 59 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hôm đó, đúng ngày 19-5-1949, sau một chuyến công tác đang trên đường về thì bất ngờ tổ công tác chúng tôi gặp phải trận càn của giặc Pháp. Chúng nhảy dù xuống, càn quét ở vùng Lý Nhơn (Cần Giờ), bên kia sông Xoài Rạp, chúng tôi không về được. Phải bốn, năm ngày sau, khi bọn chúng rút đi, chúng tôi mới vượt sông trở về đến căn cứ.

Ngày ấy, tôi gầy yếu, nhút nhát lắm. Được tham gia hoạt động phong trào với các cô, các dì trong Hội, Đoàn, xem các dì làm, nghe các dì nói, tôi hiểu dần ra và mạnh dạn trong giao tiếp. Những ngày đầu tham gia kháng chiến, ngồi học chính trị, khi đang ghi chép, có lần giảng viên gọi lên trả lời câu hỏi, tôi không nói được, khóc thút thít…

Ngừng một chút, bà kể tiếp:

- Tôi là đứa con gái duy nhất trong gia đình. Khi sinh tôi ra, má không có sữa, tôi phải bú nhờ sữa của bà dì, nhưng cũng chỉ được ít ngày. Dù được ba má, ông bà hai bên nội, ngoại cưng chiều, chăm sóc, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn không khỏe mạnh, cứng cáp như chúng bạn. Quá nhỏ bé và yếu đuối nên mãi đến khi lên 9 tuổi tôi mới được ba má cho đi học.

Năm 14 tuổi, một hôm ăn vài cái bánh ít và chén chè xôi nước (loại thức ăn bà ngoại hay làm), tôi bị ngộ độc thức ăn. Suốt ngày hôm đó, tôi nôn thốc, nôn tháo. Dù được bà ngoại, ba má chạy đôn chạy đáo tìm mua thuốc chữa trị nhưng bệnh tình không giảm, tưởng là đã hết phương cứu chữa… Hay tin, mấy tiếng đồng hồ sau, ông nội tôi đến, mang theo một chai thuốc và sau khi uống thứ thuốc ấy, tôi dần cầm được. Khi khỏi bệnh, ông nội nói đó là chai thuốc của cụ Bảy Trân (Nguyễn Văn Trân) cho, khi ông gặp trên đường đi thăm cháu bệnh. Nghe kể bệnh tình của cháu, cụ Bảy Trân đã cho chai thuốc đó và hướng dẫn tỉ mỉ phương cách sử dụng, liều dùng…

Qua lời kể của ông bà, ba má, sau này bà mới hay, nhà lão thành cách mạng Nguyễn Văn Trân và cụ Nguyễn An Ninh (bạn cùng học ở bên Pháp), về nước, cùng nhau đạp xe đạp bán dầu cù là khắp nơi, với mục đích mở rộng tiếp xúc, tuyên truyền, giáo dục dân chúng lòng yêu nước, mở mang dân trí, đem ánh sáng văn hóa tới mọi tầng lớp dân nghèo nơi thôn quê.

Cả cuộc đời cống hiến

Từ cái ơn được cứu sống và qua lời kể của ông bà, ba má, Thanh Xuân tự nhiên có cảm tình với cụ Bảy Trân, với cụ Nguyễn An Ninh, cảm tình với cách mạng. Bà quyết chí ra đi làm cách mạng ngay sau những biến cố đau thương xảy ra với gia đình bà: Quãng thời gian từ cuối năm 1947 đến đầu năm 1948 (giữa tháng Chạp năm Đinh Hợi 1947, má bị giặc bắt, bỏ tù vì có liên quan đến cộng sản; 28 tháng Chạp, ông nội mất; mồng Mười tháng Giêng năm Mậu Tý 1948 chồng của dì Mười hy sinh; 13 tháng Bảy năm đó, ông cậu Bùi Văn Quới bị giặc Pháp bắn chết ở Nhà Bè…). Tháng 10-1948, bà thoát ly gia đình, tham gia kháng chiến…

Trong cuộc sống kháng chiến, vượt qua bao bộn bề khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, bà lao vào công việc với niềm tin cách mạng và nhiệt tình tuổi trẻ. Mùa Xuân năm 1951, bà gặp và có cảm tình với chiến sĩ Trang Văn Tỏ, người ở đơn vị đến phối thuộc công tác. Như trở lại sống trong tuổi thanh xuân, bà ngập ngừng đôi chút, nói khẽ:

- Trong một lần đi công tác, tụi tui gặp, quen và có cảm tình với nhau. Ngày ấy, ổng tỏ ý thương, viết thư cho tui nhưng không dám gởi. Về sau được tổ chức, đơn vị động viên, giúp đỡ, ổng mới đưa thư cho tui… Trong lá thư tỏ tình ngày ấy, ổng có nói yêu em, yêu Xuân gì đâu. Loanh quanh, dông dài một hồi, rồi ổng nói đã gặp, rồi thấy quen, thấy nhớ, viết thơ thăm hỏi…; hẹn khi nào đến công tác ở xã thì gặp lại. Vậy thôi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn