ANH HÙNG NGUYỄN TIẾN THỤC
Tiếp nối truyền thống yêu nước của dòng họ, con cháu họ Trần ở phương Nam đã tham gia cách mạng trong lực lượng biệt động Sài Gòn. Khi vương triều Trần mới dựng nghiệp, một số người họ Trần đã tới vùng đất ở làng Đào, xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, sinh cơ lập nghiệp tạo nên ngôi làng toàn họ Trần ở đây. Qua nhiều biến thiên của lịch sử, những con cháu của họ đi vào miền Nam lập nghiệp và dựng lên làng Nam Đào. Tiếp nối truyền thống yêu nước của dòng họ, con cháu họ Trần ở phương N
Làng Đào, xã Hiển Khánh, Vụ Bản, Nam Định, một ngôi làng cách mạng anh hùng. Sau này một số con cháu của làng Đào di cư vào Nam lập nên làng Nam Đào, nay ở ấp Tây B, phường Bình Trưng Tây, Quận 2, TP Hồ Chí Minh và trở thành cơ sở của lực lượng biệt động Sài Gòn.
Làng Đào, hay thôn Đào, còn có tên gọi là làng Dầu, nằm ở phía tây bắc xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Từ xa xưa, khi mở mang vùng đất, nơi đây đã có nhiều người Việt cổ qua lại. Về sau, khi nhà Trần dựng đô ở Tức Mặc, đã có người họ Trần tới định cư ở đây. Cho đến ngày nay, cả làng chỉ có một dòng họ Trần. Gia phả dòng họ Trần còn ghi lại có 12 đời nối dõi mở mang trấn giữ đất này. Tương truyền nơi đây đã có ông Trần Quốc Thắng được phong là Đô tướng quân. Trong làng có rất nhiều người giỏi võ, vật.
Chúng tôi tìm đến nhà ông Trần Nhương ngụ ở quận 3, TP Hồ Chí Minh, một chiến sĩ biệt động Sài Gòn, con cháu của làng Nam Đào. Ông Nhương cho biết: Làng Nam Đào được khai sinh từ ý tưởng của một người trong dòng tộc, đó là cụ Trần Đình Thọ.
Cụ Thọ là người làng Đào. Thời trẻ cụ làm thợ máy Nhà máy đèn Hải Phòng. Về sau, cụ chuyển qua làm ở xưởng đóng tàu, rồi làm thợ bánh trên tàu Tourvillve 5 sao của Pháp. Khoảng trước năm 1910, cụ đã lập ra Hội Yêu nước. Cụ Thọ từng liên hệ với những người yêu nước như cụ Khánh Ký, ông Nguyễn Thâm Chi...
Từ sự giúp sức của cụ Thọ mà làng Nam Đào ra đời. Ông Nhương kể: “Vào thời thuộc Pháp, cuộc sống của nhân dân ta rất khốn khó. Những thanh niên trong làng Đào quyết định ra đi. Họ ra Hải Phòng, tìm đến cụ Thọ nhờ giúp đỡ. Nhờ làm ở xưởng đóng tàu, cụ đã đưa một số con cháu trong dòng họ và bà con ở làng Đào xuống tàu vào Nam.
Để đưa được những người bà con xuống tàu, cụ Thọ nhận họ vào làm bánh mì trên tàu của Pháp, nơi cụ làm việc. Khi đến nơi, cụ nói với người đầu bếp Pháp là: “Bọn này lười, không chịu làm, phải đuổi chúng nó”. Cũng bằng cách đó, cụ đã giúp nhiều người yêu nước khác có điều kiện thâm nhập. Với những người làng Đào vào Nam, cụ dặn: “Các anh vô đó phải lo làm ăn, nên quần tụ vào một chỗ để nương tựa nhau mà sống”. Từ lời dặn của cụ, họ đã mua đất lập ra làng Nam Đào và Hội Nam Đào tương tế. Đó là nguồn gốc để hình thành nên những cơ sở biệt động của làng Nam Đào sau này.
Những cơ sở của làng biệt động này hầu hết là con cháu của họ Trần ở thôn Đào vào. Nơi đây từng nuôi dưỡng một số cán bộ cách mạng, như gia đình ông Trần Hứa nuôi ông Trần Huy Liệu, gia đình ông Trần Da nuôi ông Nguyễn Oanh (cả hai ông nay đều được đặt tên đường tại TP Hồ Chí Minh, đường mang tên Trần Huy Liệu nằm ở quận Phú Nhuận, đường Nguyễn Oanh nằm ở quận Gò Vấp - PV )...”.
Sau khi làng Nam Đào ra đời, từ sự xây dựng của ông Nhương, ông Hai Trí, ông Trần Văn Mỹ... mà làng biệt động Nam Đào ra đời. Từ đó con cháu họ Trần trong làng đã hết lòng đi theo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Ông Nhương lúc đó là một chiến sĩ biệt động trong đội của ông Ba Đen (tức anh hùng Nguyễn Thanh Vân). Nhận chỉ thị của ông Ba Đen, ông Nhương trở về Sài Gòn, móc nối với bà con, anh em trong dòng họ Trần ở làng Nam Đào, xây dựng họ thành cơ sở của biệt động.Ông Nhương kể lại: “Do là những bà con trong dòng họ, nên việc vận động họ tham gia cũng khá thuận lợi vì họ tin tưởng mình. Hơn nữa, truyền thống của dòng họ, của làng Đào từ xưa đã là những con người yêu nước, việc vận động không khó. Sau khi xây dựng được một số đầu mối, tôi chuyển qua làm nhiệm vụ khác. Ông Hai Trí lo tiếp việc xây dựng cơ sở sau đó”. Ông Hai Trí, hiện sống ở quận Bình Thạnh, tên thật là Nguyễn Văn Trí, nguyên trước đây là chính trị viên đơn vị bảo đảm J9-A20, quân khu Sài Gòn - Gia Định.
Từ những cơ sở do ông Nhương xây dựng, ông Hai Trí về củng cố, phát triển thêm một số cơ sở để xây dựng cơ sở tài chính nuôi quân. Trong đó có các gia đình như: gia đình ông Trần Kế, gia đình bà Trần Thị Nồng, gia đình bà Trần Thị Rớt, gia đình ông Trần Văn Kền (tên khác là ông Trần Văn Hạnh)...
Nhớ lại ngày đó, ông Hai Trí kể: “Trước đó, tôi chưa biết tới những cơ sở biệt động ở làng Nam Đào. Khi lên làm chính trị viên ở đơn vị ông Ba Đen, tôi mới được ông cho biết và cùng bàn bạc phương thức xây dựng, củng cố thêm. Tôi có thuận lợi là có thể công khai vô thành phố, nên ông Ba Đen bàn với tôi vô làng Nam Đào xây dựng cơ sở. Trước đó, ông Nhương và một người nữa là ông Ba Bảo đã xây dựng được một số, tôi chỉ phát triển thêm. Tổng cộng tôi đã xây dựng được khoảng 20 cơ sở qua các đầu mối. Họ có hai nhiệm vụ: người chủ gia đình là trụ sở liên lạc và là nơi trú ém cán bộ”.
Theo những tài liệu mà ông Hai Trí và ông Trần Nhương cung cấp, từ năm 1963 - 1968, khu vực chùa và nghĩa trang Nam Đào là nơi tụ họp hầu hết các cơ sở cách mạng thuộc làng Nam Đào. Nơi đây là địa điểm để họ đến bàn bạc, quyên góp ủng hộ tiền bạc, thuốc men, quần áo... ủng hộ cách mạng. Khu vực chùa và nghĩa trang này từng là nơi ông Ba Đen và ông Hai Trí đến bàn bạc trước trận đánh Đại sứ quán Mỹ năm Mậu Thân.
Sau đó, đơn vị chiến đấu của ông Ba Đen chuyển qua tiệm phở Bình ở đường Yên Đỗ, nay là đường Lý Chính Thắng, Q3, TP Hồ Chí Minh. Trong trận đánh, đơn vị ông Ba Đen đã chiếm được tòa đại sứ Mỹ, nhưng do lực lượng ít, không có quân tiếp viện, đơn vị chỉ còn lại ông Ba Đen bị thương và bị bắt...


