Bài viết

Anh hùng Nguyễn Tri Phương

Quảng Trị29/12/2025Đoàn Trường THPT Chuyên Võ Nguyên Giáp (Đoàn phường Đồng Hới)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tri Phương là người con của xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Bắc Trạch, tỉnh Quảng Trị). Cuộc đời ông là sự cống hiến tận tuỵ không ngơi nghỉ cho đồng bào,Tổ Quốc, từ những năm đất nước chìm trong đau thương của khói lửa, cho đến những ngày bầu trời quê hương xanh trong một nền hòa bình. Trong ánh nhìn của lịch sử, trong kí ức của nhân dân, những cống hiến của người anh hùng ấy vẫn được gìn giữ một cách trọn vẹn, cao quý nhất.
Đại tá Nguyễn Tri Phương qua lời kể của nhà giáo Hoàng Minh Đức hiện lên là một người anh hùng lặng lẽ sống, lặng lẽ cống hiến, mạnh mẽ và dũng cảm đi qua bao chiến trận để viết nên bản hòa ca hòa bình hôm nay cho quê hương Quảng Bình. Trong những năm tháng kháng chiến khốc liệt, khi bom Mỹ xé nát vùng đất Thanh Trạch, khi sông nước hóa thành biển lửa, ông hiện lên không chỉ với tư cách người chỉ huy mưu trí, gan góc, mà còn là điểm tựa sinh mệnh cho đồng đội và nhân dân. Có những thời khắc, cái chết đến gần đến mức chỉ cần chậm một bước là không còn đường quay lại, nhưng ông vẫn chọn lao về phía hiểm nguy. Trong trận đánh ngày 28 tháng 4 năm 1965 của năm chiếc hải quân bên phía ta đang trú ẩn trên khu vực Lèn Voi và Lèn Đứt Chân (huyện Tuyên Hóa), thuyền ta trúng đạn, nước tràn vào như muốn nhấn chìm tất cả, ông cởi chính chiếc áo đang mặc, bịt lỗ thủng con thuyền, để giữ lại một cơ hội mong manh cho sự sống. Hành động ấy không chỉ là bản lĩnh của người lính, mà là tấm lòng của một con người đặt mạng sống người khác lên trên chính mình.
Không chỉ trên chiến tuyến, trong những phút giây cứu nạn sau bom rơi, hình ảnh Nguyễn Tri Phương lại hiện ra với xẻng, với túi thuốc, với hơi thở gấp gáp chạy đua cùng thời gian. Trận bom dữ dội ngày 14 tháng 6 năm 1965 đã vùi lấp cả ngôi nhà của chị Huệ trong khói lửa, năm sinh mạng nằm im lìm dưới lòng đất. Ông không chờ mệnh lệnh, không chờ an toàn, mà tự mình lao vào đào bới, thông khí, hô hấp nhân tạo, kéo từng con người từ cõi chết trở về. Đó không chỉ là một lần cứu người, mà là một cuộc giành giật sự sống khỏi bàn tay hủy diệt của chiến tranh, nơi lòng nhân ái tỏa sáng giữa tro tàn.

Trong buổi phỏng vấn với nhà báo Hoàng Minh Đức, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tri Phương đã có dịp chia sẻ về cuộc đời mình, nó hiện lên như một dòng chảy không ngừng, nơi những kỷ niệm được gặp Bác Hồ đan xen với những năm tháng bom đạn ác liệt trên tuyến lửa Quảng Bình. Mỗi lần nhắc đến Bác, giọng ông chợt trầm lại, ánh mắt như lắng sâu, như thể những lời dặn dò năm xưa vẫn còn nguyên vẹn, âm thầm neo giữ trong miền ký ức.
Lần đầu tiên gặp Bác Hồ là vào ngày 26/12/1966, khi ông cùng các cá nhân có thành tích tiêu biểu của tỉnh Quảng Bình ra Hà Nội dự Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ tư. Trong hội trường trang nghiêm ấy, Bác hồ biểu dương những thành tích to lớn của ông Phương, đó không chỉ là một vinh dự lớn lao, mà còn là khoảnh khắc khiến ông ý thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của một người được tin cậy giữa lúc đất nước đang trong khói lửa.
Mang theo niềm xúc động ấy, ông trở về Quảng Bình – nơi chiến tranh đang ngày một khốc liệt. Bom Mỹ dội xuống làng mạc, nhà cửa sập đổ, hầm hào tan hoang, người chết, người bị thương nối tiếp nhau. Khi được giao làm Chủ tịch xã rồi Trưởng Công an huyện Bố Trạch, ông không ngồi lại bàn giấy mà trực tiếp xuống cơ sở, có mặt ở những nơi ác liệt nhất. Ở đâu có bom rơi, ở đó có ông,ở đâu dân gặp nạn, ở đó ông tìm cách cứu giúp.
Trong dòng hồi tưởng ấy, ông nhắc đến lần gặp Bác Hồ thứ hai vào ngày 2/1/1967, khi các đơn vị và cá nhân được tuyên dương anh hùng được đến Phủ Chủ tịch gặp Bác và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng. Bác nói với các đại biểu bằng giọng ân cần mà sâu sắc: “Sở dĩ có anh hùng là vì có đất nước anh hùng, có dân tộc anh hùng là vì có Mẹ Việt Nam anh hùng. Được phong anh hùng đã khó, giữ được anh hùng còn khó hơn.” Rồi Bác chụp ảnh lưu niệm với mọi người trước Phủ Chủ tịch. Ông Phương kể, hôm ấy ai cũng quây quần bên Bác, lưu luyến đến mức không ai muốn ra về. Lời Bác nói, theo ông, như một lời nhắc nhở âm thầm mà nghiêm khắc cho suốt chặng đường sau này.
Trở lại tuyến lửa, ông lao vào công việc giữa muôn vàn hiểm nguy. Có lần vừa đặt chân tới vùng Tróoc thì máy bay Mỹ bất ngờ ném bom trúng hầm nhà ông Thuận, cướp đi sinh mạng của 18 con người. Ông cùng bà con đào bới đất đá, nhặt nhạnh từng mảnh xương thịt còn sót lại, lặng lẽ đưa các nạn nhân về mai táng. Không chỉ đối mặt với bom từ trên cao, ông còn trực tiếp đi phá bom từ trường để dân có thể yên tâm ra đồng gặt lúa. Trong một trận bom ngày 18/09/1972 chính gia đình ông cũng chịu tổn thất nặng nề khi bom đạn đã cướp đi sinh mạng của 4 người là bố, vợ, và con ông nhưng ông chỉ nói khẽ rằng, nhớ lời Bác dặn phải “giữ được anh hùng”, ông không cho phép mình gục ngã.
Lần gặp thứ ba của ông với Bác Hồ hiện lên đầy giản dị mà xúc động qua lời kể. Ngày 3/1/1967, trong không gian ấm áp của buổi tiếp Đoàn đại biểu anh hùng và chiến sĩ thi đua tỉnh Quảng Bình tại nhà làm việc của Người, Bác chậm rãi đọc tên từng cá nhân. Khi đến tên Nguyễn Tri Phương, ánh mắt Bác dừng lại, nụ cười hiền hậu chan chứa niềm tin. Người biểu dương tinh thần chiến đấu dũng cảm của ông – người con Quảng Bình đã cùng quân dân lập nên những chiến công bền bỉ, trong số đó không thể kể đến việc thành công bắn rơi 100 chiếc máy bay của giặc Mỹ. Chính nhờ những thành tích to lớn ấy mà tỉnh ta được Bác gửi thư khen “Hai giỏi” và tặng Cờ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Cuộc gặp không nhiều lời, nhưng đủ để hun đúc thêm nơi người chiến sĩ ấy một lời hứa thầm lặng: sống và cống hiến xứng đáng với niềm tin của Bác.
Lời hứa ấy được ông giữ trọn trong những năm tháng khốc liệt nhất. Đầu năm 1973, trên cương vị Trưởng công an huyện Bố Trạch, giữa cảnh “gà trống nuôi con”, ông vẫn xông pha gây dựng
phong trào “Giữ gìn an ninh Tổ quốc” với quyết tâm sắt đá đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược. Khi bom đạn lại trút xuống Thanh Trạch, cướp đi sinh mạng hơn 150 người, Anh hùng Nguyễn Tri Phương đã có mặt để cho người băng bó, cấp cứu, kịp thời chuyển người bị thương vào viện, rồi lặng lẽ huy động dân làng, đưa những cỗ quan tài từ bãi bom đạn tan hoang về khâm liệm tử thi.
Từ cái bắt tay ấm áp của Bác trong buổi gặp năm ấy, đến những cống hiến thầm lặng giữa lằn ranh sống chết, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tri Phương đã đi trọn con đường của một người chiến sĩ, lấy nỗi đau riêng làm động lực, lấy sự bình yên của nhân dân làm lẽ sống. Những cống hiến của ông không chỉ ghi trong thành tích, mà còn ở tấm lòng kiên cường, nhân hậu, như một thứ ánh sáng bền bỉ soi rọi qua năm tháng.

42 năm hoạt động trong ngành Công an, một hành trình dài không chỉ được đúc kết bằng thành tích, mà còn bằng niềm tin và lý tưởng sống cao cả. Người chiến sĩ ấy lớn lên từ truyền thống “Lũy thép anh hùng”, được tôi luyện trong kỷ cương của Đảng, của ngành, và hơn hết là luôn soi mình trong lời dạy của Bác như một ánh sáng không bao giờ tắt.
Lịch sử đổi thay, thời đại biến chuyển nhưng điều còn ngân vang mãi chính là dấu ấn của sự cống hiến, là vẻ đẹp nhân văn, bền bỉ của một người anh hùng sống trọn vẹn vì Tổ quốc, nhân dân. Trong “Lời Bác dạy” ông viết:
“Lời Bác dạy
Là ánh sáng chỉ đường
Nửa thế kỉ qua
Thấm sâu lời Bác
Dù gian khổ hy sinh
Vì bình yên Tổ quốc
Đất nước đang vươn mình
Văn minh hạnh phúc
Cuộc chiến mới
Nhiều thử thách
Càng phải soi gương Người”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Anh hùng Nguyễn Tri Phương | Câu chuyện thời hoa lửa