Anh hùng Nguyễn Trung Trực
BÀI DỰ THI
THÍ SINH DỰ THI: LÊ NGUYỄN HẠO NHIÊN
HỌC SINH LỚP: 5/2
BÀI LÀM
Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Quản Lịch, Quản Chơn.
Ông sinh năm 1838, gia đình sống bằng nghề chài lưới ở Xóm Nghề, ven sông Bến Lức (Long An). Nguyên quán của Nguyễn Trung Trực ở Xóm Lưới, xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát (Bình Định). Nội tổ của Nguyễn Trung Trực là ông Nguyễn Văn Đạo - một ngư dân ở huyện Phù Cát, phủ Quy Nhơn, di cư vào Xóm Nghề trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Ông là một trong những người đầu tiên có công khai phá, lập nên Xóm Nghề.
Trong thời gian Nguyễn Trung Trực rút quân ra Phú Quốc lập căn cứ chống Pháp cho đến khi bị bắt đã để lại cho vùng đất này nhiều huyền thoại.
Người dân Phú Quốc kể, khi ông Nguyễn rời Hòn Chông đưa khoảng 40 ghe chở đầy nghĩa quân thẳng ra Phú Quốc. Lực lượng ghé vào bãi biển Hàm Ninh - là nơi ông quyết định xây dựng căn cứ chiến đấu lâu dài với quân Pháp.
Giặc Pháp biết tin, đưa tên Việt gian Huỳnh Văn Tấn, người dân quen gọi là Đội Tấn và hơn trăm lính mã tà ra tấn công Hàm Ninh. Lúc này, nghĩa quân có khoảng 300 người. Tàu Pháp đậu ở ngoài khơi bắn pháo vào bờ. Sau những đợt bắn pháo dồn dập, chúng cho một số lính lên bờ thăm dò, nhưng khi đến bìa rừng phía cửa sông là đám quân do thám ngán ngại không dám tiến sâu hơn.
Nguyễn Trung Trực liền nghĩ ra cách để phát huy hiệu quả hơn kế đa quân đã bày ra. Ông chia nhỏ nhóm quân đang trấn giữ đầu cửa sông thành từng nhóm nhỏ, mỗi người cầm thêm một con bù nhìn và giả thành nhiều giọng nói khác nhau. Một nhóm khác chèo mấy chiếc thuyền đi theo một con lạch nhỏ luồn bờ đi về phía cửa sông Cửa Lấp. Nhóm quân đi thuyền này cố tình quấy động, tạo thành nhiều đợt đi ra đi vào. Từ ngoài ra nhìn vào, quân Pháp tưởng có một đạo quân thủy rất đông đang hoạt động ở vùng Cửa Lấp.
Quân Pháp tổ chức đổ quân lên bờ đánh vào căn cứ nghĩa quân. Trên bờ, nghĩa quân cũng dùng súng gỗ bắn trả lại. Hai bên đánh nhau quyết liệt. Quân Pháp không dám mạnh tay tấn công vào căn cứ. Chúng bèn cho tàu chiến vây chặt các cửa sông trên đảo Phú Quốc, chặn hết đường tiếp tế và đường rút khỏi đảo của nghĩa quân. Nghĩa quân cũng không thể rời đảo được nhưng nhờ kế đa quân nên cuộc chiến đấu của nghĩa quân ở Phú Quốc đã được kéo dài cho đến khi Nguyễn Trung Trực bị mắc kế hiểm của Đội Tấn phải tự nộp mình cho quân Pháp.

Di vật của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Kiên Giang.
Bắt được Nguyễn Trung Trực, quân Pháp đưa về Sài Gòn thẩm vấn. Chúng chiêu dụ đủ đường, chức cao, lộc trọng nhưng vẫn không lay chuyển được ông. Quân Pháp đưa ông về Rạch Giá để xử chém ngày 27-10-1868.
Tác giả của bộ sách gồm hai tập Les premières années de la Cochinchine colonie franCaise (Những năm đầu của Nam kỳ thuộc Pháp) xuất bản năm 1874, ở phần cuối tập hai của bộ sách có viết về nội dung cuộc thẩm vấn Nguyễn Trung Trực do Trung úy hải quân Piquet thực hiện tại ngục thất Sài Gòn. Tài liệu được tóm lược như sau:
Sau khi Nguyễn Trung Trực tổ chức đánh đồn Kiên Giang, chỉ huy quân Pháp đã điều sĩ quan Rivière cùng một đội quân về Hà Tiên cùng Lãnh binh Huỳnh Văn Tấn tổ chức đưa quân ra Phú Quốc tìm bắt Nguyễn Trung Trực...
Gần 3 tháng sau, ngày 19-9-1868, Nguyễn Trung Trực bị giặc bắt được và giải về Sài Gòn. Tại đây, Pháp cho khảo cung trước khi bị tuyên án tử hình và đưa về Rạch Giá hành hình. Bản khảo cung gồm19 câu hỏi và đáp. Tất cả các câu hỏi đều xoay quanh trận đánh đồn Kiên Giang.
Quá trình khảo cung do Piquet trực tiếp thực hiện. Nguyễn Trung Trực tỏ ra cương quyết và rất đường hoàng. Pháp thấy ở Nguyễn Trung Trực một người trung hiếu, nghĩa khí và có ảnh hưởng lớn đến phong trào chống Pháp ở Nam bộ nên ra sức chiêu dụ. Huỳnh Văn Tấn và các viên chỉ huy Pháp hứa hẹn ban chức tước, lợi lộc nhưng chẳng lay chuyển được ông.
Ông trả lời dứt khoát: “Nếu có chức vụ nào giết hết Tây dương cướp nước thì ta nhận chức đó”. Và khẳng định ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây". Theo tài liệu của Pháp, Nguyễn Trung Trực bị quân Pháp xử chém tại Rạch Giá vào ngày 27-10-1868.

Lễ hội truyền thống kỷ niệm 154 năm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực hy sinh (1868-2022) được tổ chức trong điều kiện bình thường mới, thu hút rất đông khách thập phương về dự.
Tương truyền, ngày Nguyễn Trung Trực bị xử chém, dân chúng thương tiếc người anh hùng đã làm lễ tế tiễn ông dọc hai bên đường. Trước khi hành quyết Nguyễn Trung Trực, Pháp hỏi ông có cần gì không, ông chỉ xin uống một trái dừa tươi. Uống xong, ông ngâm bài thơ tuyệt mệnh:
“Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,
Yêu gian đảm khí hữu long tuyền,
Anh hùng nhược ngộ vô dung địa.
Bảo hận thâm cừu bất đái thiên”.
Thi sĩ Đông Hồ dịch:
Theo việc binh nhung thuở trẻ trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
Anh hùng gặp phải hồi không đất,
Thù hận chang chang chẳng đội trời.
Nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt cũng khóc Nguyễn Trung Trực bằng một bài thơ, ca ngợi hai chiến công bất hủ và khí phách oanh liệt của người anh hùng:
Thắng phụ nhung trường bất túc luân,
Đồi ba để trụ ức ngư dân.
Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa.
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần…
Triệu Dương dịch nghĩa:
Thua được ở chiến trường không cần bàn đến,
Chỉ nhớ người dân chài đã làm cột đá trong lúc sóng lở
Lửa đỏ vàm Nhựt Tảo vang động trời đất,
Gươm vung lên ở Kiên Giang làm quỷ thần phải khóc…
TRUNG HIẾU lược trích
Theo quyển “Huyền thoại Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực” và quyển “Nguyễn Trung Trực người Anh hùng bất tử Nam Bộ”.



