Anh Hùng Nguyễn Văn Bảy
Nguyễn Văn Bảy (sinh năm 02/02 1936 tại Lai Vung, Đồng Tháp) là một trong những phi công tiêm kích nổi tiếng nhất của Không quân Nhân dân Việt Nam, được quốc tế biết đến là một trong số ít “phi công MiG-17” trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là biểu tượng cho lòng quả cảm, tinh thần quyết tử và ý chí kiên cường của người lính Việt Nam.
Từ nhỏ, Nguyễn Văn Bảy làm ruộng và sớm tham gia các hoạt động kháng chiến chống Pháp. Với bản tính nhanh nhẹn, gan dạ và khát khao được chiến đấu trực tiếp, ông tình nguyện tham gia quân đội, năm 1960 ông được chuyển binh chủng từ bộ binh sang không quân, theo học lớp lái máy bay phản lực ở Liên Xô, trước đó do học chưa hết lớp 3, phải học ở trường bổ túc văn hóa Lạng Sơn và được phổ cập từ lớp 4 đến lớp 10. Ban đầu ông học lái máy bay Yak-52, sau đó chuyển dần lên Mig-15, Mig-17. Tháng 4 năm 1965 lớp đào tối hoàn thành tốt nghiệp chở về nước. Trong thời gian 1965-1968, loại máy bay nhỏ, chậm, không có radar hiện đại, nhưng lại thể hiện xuất sắc nhờ kỹ năng cơ động và khả năng “khóa đuôi” đối phương ở cự ly gần. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ ông bảy tham chiến trên mặt trận không đối không và bắn hạ tổng cộng bảy máy bay Mỹ gồm hai chiếc f-105 và năm chiếc f-4 , được xếp hạng ”Ách”. Ngoài ra ông được kết nạp Đảng viên Đảng lao động Việt Nam. Tháng 4 năm 1966 ông tổ chức đám cưới với bà Trần Thị Niên là đồng hương, học sinh miền nam tập kết ở sân bay Cát Bi. Sau đám cưới 45 phút thì ông lại lên máy bay xuất kích.
Ngày 1 tháng 1 năm 1967, ông được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, khi được tuyên dương ông mang cấp bậc Thượng úy Đại đội phó Đại đội 1 không quân, thuộc chung đoàn không quân Tiêm Kích 923 Bộ tư lệnh Phòng không – không quân. Thời gian sau đó ông được thăng lên hàm Đại tá và giữ nhiều chức vụ trong quân chủng như Trung đoàn trưởng trung đoàn không quân 937, Phó Tư lệnh sư đoàn 372 không quân, Phó tham mưu trưởng Không quân nhân dân Việt Nam. Năm 1975 ông chỉ huy tiếp quản sân bay Cần Thơ và tham gia điều hành các sân bay khác ở miền Nam như Tân Sơn Nhất, Biên Hoà, Cần Thơ và chỉ huy Không quân làm nhiệm vụ ở Campuchia. Năm 1989 nghỉ hưu, ông làm Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Không quân tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Năm 1990 ông chuyển về xã Tân Phú Đông, thị xã Sa Đéc, sống cảnh đoàn viên cùng gia đình.
Trong những năm cuối đời, ông thường xuyên được mời tham dự các buổi nói chuyện truyền thống, giao lưu với học sinh, bộ đội trẻ, và trở thành biểu tượng sống của tinh thần “dám đánh – biết đánh – quyết thắng”. Ông qua đời ngày 22/9/2019 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 83 tuổi. Sự ra đi của ông để lại nhiều tiếc thương cho đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế từng biết đến “chim sắt miệt vườn” – người phi công với phong thái dung dị nhưng trái tim đầy dũng khí.
Ngày nay, tên tuổi Nguyễn Văn Bảy vẫn được nhắc đến như một huyền thoại của Không quân Nhân dân Việt Nam. Những câu chuyện về ông không chỉ là ký ức của một thời lửa đạn, mà còn là bài học về lòng dũng cảm, sự khiêm nhường, tinh thần kỷ luật và niềm tin vào chính nghĩa. Cuộc đời ông là minh chứng sáng ngời cho phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam – sống giản dị, chiến đấu anh hùng và trọn đời vì Tổ quốc.
Khi tìm hiểu về những con người đã làm nên lịch sử của bầu trời Việt Nam, tôi đặc biệt xúc động trước cuộc đời và phẩm chất của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Bảy. Ở ông hội tụ sự giản dị của một người nông dân miền Tây và sự quả cảm của một phi công tiêm kích – người đã sẵn sàng đối mặt với những “thần sấm”, “con ma” tối tân của không lực Mỹ trong cuộc chiến tranh đầy cam go của dân tộc.
Điều khiến tôi ấn tượng mạnh nhất ở Nguyễn Văn Bảy không phải chỉ là con số 7 máy bay Mỹ bị bắn rơi, mà là cách ông sống và chiến đấu. Xuất thân từ ruộng đồng, chưa từng mơ đến việc trở thành phi công, vậy mà ông đã vượt qua muôn vàn khó khăn để làm chủ chiếc MiG-17 – loại máy bay tuy thô sơ nhưng qua bàn tay và ý chí của ông lại trở thành “cánh chim thép” đáng gờm trên bầu trời miền Bắc. Người ta kể rằng ông không ngại đối đầu trực diện, luôn giữ vững bình tĩnh và tỉnh táo trong mọi tình huống. Đằng sau sự gan dạ ấy là lòng yêu nước sâu sắc và ý chí bảo vệ bầu trời Tổ quốc đến cùng.
Sau chiến tranh, Nguyễn Văn Bảy trở về quê với cuộc sống rất đỗi đời thường. Điều này khiến tôi càng thêm kính trọng. Một người anh hùng, từng làm nên những chiến tích mà bạn bè quốc tế phải khâm phục, vậy mà khi rời buồng lái lại chọn cách sống giản dị: làm vườn, chăm cá, trò chuyện chân tình với bà con lối xóm. Ở ông không có sự kiêu hãnh của người từng lập chiến công, chỉ có sự khiêm nhường và tấm lòng chân thật. Chính sự bình dị ấy khiến hình ảnh ông trở nên gần gũi hơn bao giờ hết.
Điều để lại trong tôi sự xúc động sâu sắc là cách ông được thế hệ trẻ yêu mến. Trong những buổi giao lưu, ông không nói về chiến công như một sự tự hào cá nhân, mà nói để lớp trẻ hiểu giá trị của hòa bình, để biết rằng đất nước hôm nay được đánh đổi bằng bao mất mát, hi sinh của thế hệ đi trước. Cách ông kể chuyện chân thành, mộc mạc nhưng có sức truyền cảm lớn, khiến người nghe dễ dàng cảm nhận được tinh thần mạnh mẽ, lạc quan và niềm tin tuyệt đối vào chính nghĩa mà ông mang trong mình.
Khi ông qua đời năm 2019, tôi thấy không chỉ quân đội mà cả nhân dân đều tiếc thương một con người sống trọn vẹn vì Tổ quốc. Nguyễn Văn Bảy không chỉ là một phi công huyền thoại, mà còn là biểu tượng của vẻ đẹp con người Việt Nam: bình dị nhưng phi thường; khiêm nhường nhưng kiên cường; sống giản đơn nhưng mang trong mình tấm lòng rộng lớn.
Cảm nhận về ông khiến tôi càng thêm trân trọng những giá trị mà thế hệ cha anh để lại. Nguyễn Văn Bảy sẽ mãi là ngọn lửa truyền cảm hứng về lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và ý chí vượt khó – những phẩm chất mà mỗi người trẻ hôm nay đều cần gìn giữ và tiếp nối.


