Anh hùng Nguyễn Văn Bảy
1. Anh hùng Lực lượng Vũ trang – Nguyễn Văn Bảy
Cuộc đời phi công huyền thoại Nguyễn Văn Bảy gắn với con số 7 kỳ lạ: Tham gia cách mạng năm 17 tuổi, học văn hóa 7 ngày xong 7 lớp, 7 lần bắn rơi máy bay địch, lái máy bay chiến đấu MiG17, được 7 huy hiệu Bác Hồ; được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1967.
Ông sinh năm 1936, ông có tên khai sinh là Nguyễn Văn Hoa. Theo lời Đại tá phi công Nguyễn Văn Bảy, khi còn sống, cha mẹ ông ép cưới vợ khi ông vừa tròn 17 tuổi. Nhưng vì không muốn lập gia đình sớm, ông đã trốn cha mẹ để tham gia quân đội. Đây chính là bước ngoặt trong cuộc đời huyền thoại của phi công Nguyễn Văn Bảy.
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc sau một năm tham gia quân đội. Sáu năm sau, có đợt tuyển chọn binh sĩ để đào tạo phi công. Ông Bảy khi đó 24 tuổi, cao 1m67, nặng 69 kg là người được chọn với "tỷ lệ chọi" ba trên một vạn người. Trong bảy ngày được bồi dưỡng ở trường Bổ túc văn hóa Lạng Sơn, ông đã nắm được căn bản về đại số, các định luật vật lý, công thức tính toán...
Năm 1960, tức 6 năm kể từ ngày tập kết ra Bắc, ông là một trong số rất ít người được chuyển từ sư đoàn bộ binh sang không quân, rồi được chọn đi học lái máy bay.
Theo ông Bảy, để được học lái máy bay, tệ nhất cũng phải xong lớp 10/10 (tương đương lớp 12 hiện nay), trong khi ông mới học tới lớp 3. Vậy chỉ trong 1 tuần học văn hóa, theo phương châm “cần gì, học đó”, ông hoàn thành xong 7 lớp.
Xong phần lý thuyết cơ bản lái máy bay ở trong nước, ông được đưa sang Trường hàng không số 3 nằm tại TP Cẩm Châu, tỉnh Liêu Ninh - một nơi đào tào lái máy bay tốt nhất nhì của Trung Quốc bấy giờ. Đoàn học viên của Việt Nam được đào tạo lái máy bay MiG17 lúc đó chỉ có 34 người. Các học viên bắt đầu với máy bay huấn luyện Yak-18, sau đó chuyển sang MiG-15 rồi MiG-17 trong bốn năm với sự hướng dẫn của giảng viên Liên Xô.
Trở về nước, năm 1965, ông Bảy thuộc biên chế Trung đoàn không quân tiêm kích 923 (mật danh đoàn Yên Thế), tham gia tham chiến trận đầu tiên trên vùng trời Bắc Sơn – Chi Lăng. Trước khi xuất kích trận đầu, phi công Nguyễn Văn Bảy mới chỉ có khoảng 100 giờ bay trên MiG-17.
Chiến công đầu tiên của phi công Nguyễn Văn Bảy được xác lập ngày 21/6/1966. Hôm đó biên đội 4 chiếc MiG-17 phát hiện nhiều máy bay Mỹ, trong đó có một máy bay trinh sát RF-8A được hộ tống bởi máy bay F8 Crusader được mệnh danh là “hiệp sĩ thánh chiến” của phi đội 211 Mỹ. Biên đội trưởng Phan Thành Trung đã tiêu diệt chiếc RF-8A; còn phi công Nguyễn Văn Bảy hạ chiếc F-8E do Cole Black điều khiển. Đến các ngày 24 và 29/6/1966, phi công Nguyễn Văn Bảy tiếp tục lập công, bắn rơi máy bay F-4C và F105D trên bầu trời Thái Nguyên, Việt Trì và Hà Nội.
Ngày 21/9/1966, trên bầu trời Chí Linh (Hải Dương), 16 máy bay F-4 và F105 của địch chia thành nhiều tốp, nhiều tầng, nhiều hướng bao vây biên đội 4 máy bay của phi công Nguyễn Văn Bảy. Trận này, biên đội của phi công Nguyễn Văn Bảy hạ 3 chiếc, trong đó phi công Nguyễn Bảy hạ 1 chiếc F-4.
Phi công Nguyễn Văn Bảy cho biết, “trận đánh nhanh nhất” với địch trên bầu trời là ở khu vực cầu Giẽ (Hà Tây) vào ngày 5/9/1966. Chiều đó, phát hiện hai chiếc máy bay địch như hai chấm nhỏ ở phía trái, ông cùng đồng đội xuất kích diệt gọn hai chiếc máy bay chỉ trong 45 giây...
Chính bước ngoặt ấy đã biến chàng trai Nam Bộ bình dị ấy trở thành một trong những phi công chiến đấu xuất sắc nhất của Không quân nhân dân Việt Nam. Ông là Đại tá Không quân, được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào tháng 1/1967 khi mới 31 tuổi.
Nhưng con số ấy không nói lên tất cả về người anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy. Điều khiến ông được nhắc đến nhiều không chỉ là thành tích, mà là phong cách chiến đấu dũng cảm, táo bạo và mưu trí. Ông được truyền thông ca ngợi như huyền thoại, bởi tuy lái máy bay máy bay MIG-17 được trang bị 3 khẩu pháo (1 khẩu 37 ly, 2 khẩu 23 ly) với cơ số đạn 200 viên, nhưng ông có kinh nghiệm tận dụng hiệu quả hỏa lực tầm gần ở cự ly dưới 400m. Ông được người dân đặt cho tên gọi thân thương “Người anh hùng chân đất lái MIG-17 dũng cảm”.
Theo lời ông Bảy kể lại, khi có đồng đội yểm trợ phía sau, ông lao thẳng vào đội hình máy bay địch, chọn những máy bay nào gần nhất, bất kể bên trái hay bên phải, ở trên hay ở dưới, ông quẹt tẹt ga toàn bộ cơ số đạn rồi bay thẳng, nghĩa là đánh theo kiểu du kích “nắm chặt thắt lưng địch mà đánh”.
Trong những buổi giao lưu với học sinh, thanh niên, ông thường nói: “Chú lái máy bay như lái trâu cày – cứ nhắm thẳng vào địch mà đánh”. Những hành động quả cảm, mưu trí như thế đã làm nên tên tuổi ông vượt khỏi khuôn khổ những thông số quân sự, trở thành biểu tượng của tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” bảo vệ vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.
Năm 1990 nghỉ hưu, Nguyễn Văn Bảy xin về quê làm ruộng, sống cuộc đời bình dị. Hình ảnh ông “Bảy máy bay” – người anh hùng từng lái MIG-17, nay vác cuốc ra đồng – đã trở nên thân thuộc với người dân Lai Vung, Đồng Tháp. Ngày ngày ông vui vẻ làm ruộng, ra đồng cuốc đất, trồng rau, ở nhà thì nuôi đàn lợn mấy chục con cải thiện cuộc sống.
Sinh thời, ông từng kể, ngày được đoàn tụ với mẹ là khoảnh khắc vô cùng xúc động. Năm 1953, mới 17 tuổi, ông rời quê lên đường ra miền bắc. Biền biệt suốt hơn 22 năm, mãi đến tháng 6/1975, ông mới trở về gặp lại người mẹ thân yêu. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau trong nước mắt; dòng lệ của ông tuôn trào, thấm ướt cả vạt áo của mẹ – người đã mòn mỏi ngóng trông con suốt bao năm tháng. Ông nói, chưa bao giờ ông để nước mắt mình rơi nhiều đến thế, hệt như bao nhiêu lần ông rơi nước mắt khi nhận được tin đồng đội hy sinh – những người đồng đội không còn được nhìn thấy ngày hòa bình và may mắn được trở về đoàn tụ với gia đình như ông.
Nguyễn Văn Bảy không chỉ là huyền thoại trong lòng người dân Việt Nam, mà còn được các phi công cựu thù kính trọng, ngưỡng mộ. Đại tá phi công Mỹ Charlie Plumb từng tìm về tận quê ông ở Lai Vung, Đồng Tháp để xác nhận: Có phải chính ông Bảy là phi công đã từng không chiến bất phân thắng bại với mình hồi năm 1967 ở Quảng Yên hay không. Ông Bảy mở lòng “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, đón tiếp người phi công Mỹ từng đối đầu năm 1967 như một người bạn, cùng uống rượu quê, ăn trái cây trong vườn nhà và thân mật khoác lên cổ Charlie Plumb chiếc khăn rằn Nam Bộ.
Ông Bảy mất năm 2019, để lại sự tiếc thương sâu sắc trong lòng hàng triệu người dân. Hàng nghìn người dân các làng quê, học sinh, bộ đội, nhà báo, nhà văn… đã đến tiễn đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng trong lòng đất Mẹ Việt Nam.
Tên tuổi ông mãi mãi hiện diện trong những trang sử vàng của Không quân Việt Nam, trong ký ức của bao thế hệ hôm nay và mai sau. Hình ảnh anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy đọng mãi trong trái tim người dân Việt Nam như biểu tượng người phi công Việt Nam anh hùng quả cảm, mưu trí, không sợ hy sinh giữa bom đạn để bảo vệ vùng trời của quê hương.
2. Thương binh nặng – Nguyễn Văn Hồng
Ông nhập ngũ và xung phong ra chiến trường trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trực tiếp tham gia chiến đấu tại các địa bàn trọng điểm ở chiến trường miền Nam (vùng Quảng Trị – Đường 9 Nam Lào), nơi hứng chịu mật độ đạn pháo và hỏa lực dày đặc của địch.
Trong một đợt tấn công chống càn quét ác liệt của đối phương, đơn vị của ông bị bao vây và chịu hỏa lực pháo binh, không kích dữ dội. Ông bị mảnh bom găm trúng vùng lưng, làm gãy đốt sống và dập tủy sống nghiêm trọng. Bị thương nặng khiến ông liệt hoàn toàn nửa người bên dưới (hai chi dưới), mất hoàn toàn khả năng vận động tự chủ và khả năng kiểm soát sinh hoạt cá nhân.
Tỷ lệ thương tật: Thương binh hạng 1/4 (mức độ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên – mức đặc biệt nặng). Cuộc sống và quá trình điều trị chăm sóc y tế đặc biệt tại Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Thuận Thành (Bắc Ninh) – Trung tâm nuôi dưỡng thương binh nặng lớn nhất cả nước. Do liệt hai chân hoàn toàn, ông Hồng phải gắn liền cuộc sống trên chiếc xe lăn suốt hàng chục năm qua.
Hằng ngày, ông được đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng viên tại Trung tâm Thuận Thành hỗ trợ rửa vết thương, vật lý trị liệu, lăn xoa bóp để chống teo cơ, hoại tử tử lở loét do nằm/ngồi một chỗ kéo dài, cũng như xử lý các biến chứng về đường tiết niệu và thần kinh. Mỗi khi gió mùa hoặc thời tiết chuyển mùa, những vết thương cũ trên sống lưng và vòm tủy lại gây ra các cơn đau co giật, buốt tận xương tủy. Dù vậy, ông vẫn kiên cường chịu đựng mà không làm ảnh hưởng đến không khí chung của trung tâm.
Lạc quan, yêu đời: Dù mang trên mình vết thương vô cùng nặng nề, ông Hồng luôn giữ nụ cười và tinh thần lạc quan. Ông tích cực tham gia các phong trào văn nghệ, thi đấu thể thao trên xe lăn (như xe lăn lắc, bóng bàn) dành cho thương binh nặng.
Tại Trung tâm Thuận Thành, ông coi các đồng chí thương binh khác như anh em ruột thịt. Những người còn đôi tay thì hỗ trợ người hỏng mắt, người còn trí nhớ kể chuyện cho người chấn thương não, tạo nên một "gia đình lớn" giàu tình đồng chí.
Ông lập gia đình và nhận được sự đồng hành, chăm sóc tràn đầy tình thương từ người vợ – người phụ nữ đã chấp nhận hy sinh tuổi xuân để ở bên gánh vác, chăm sóc người chồng thương binh nặng.

