Anh hùng Nguyễn Văn Lục kể chuyện "Mũi tiến công thứ 6"
Trận ném bom của Phi đội Quyết thắng, Trung đoàn 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không - Không quân) vào sân bay Tân Sơn Nhất chiều 28-4-1975 được ví như "Mũi tiến công thứ 6". Chiến công xuất sắc ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Một ngày giữa tháng 5-2026, tôi đến thăm Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Lục (đường Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, TP Hà Nội). Khi bước chân vào phòng khách, tôi thực sự ngưỡng mộ bởi những tấm huân, huy chương, bức ảnh treo kín tường. Trong tủ kính chủ nhà trưng bày nhiều kỷ vật, mô hình máy bay, lô gô, kỷ niệm chương..., trong số đó nổi bật nhất là bức ảnh Phi đội Quyết thắng, do nghệ sĩ Nguyễn Xuân Át chụp tại sân bay Thành Sơn chiều 28-4-1975. Đã bước sang tuổi 80, nhưng ông vẫn nhanh nhẹn và minh mẫn. Với giọng kể chắc khỏe của “lính bay”, chiến công cách đây hơn nửa thế kỷ được ông tái hiện lại một cách sinh động và rõ nét.
Từ làm tốt công tác chuẩn bị
Cuối tháng 3-1975, sau khi giải phóng Huế và Đà Nẵng, ta thu được một số máy bay chiến đấu A-37 của địch. Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh đã giao cho Quân chủng Phòng không-Không quân gấp rút huấn luyện, sẵn sàng nhận nhiệm vụ vào thời điểm quyết định. Sau khi nhận được chỉ thị của trên, Bộ tư lệnh Quân chủng lựa chọn Đại đội 4, Trung đoàn 923 thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. “Ngày 22-4-1975, bốn phi công, gồm: Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng và tôi được đưa từ Gia Lâm vào Đà Nẵng để tham gia huấn luyện chuyển loại cấp tốc máy bay A-37”, Đại tá Nguyễn Văn Lục nhớ lại.
Ngay sáng hôm sau, phi đội tổ chức học lý thuyết, tìm hiểu tính năng, tác dụng cùng các trang thiết bị của máy bay A-37. Đây là khóa huấn luyện thần tốc, chỉ gói gọn trong một ngày học lý thuyết và 2,5 ngày thực hành. Khó khăn nhất là toàn bộ ký hiệu trên thiết bị máy bay đều bằng tiếng Anh, trong khi các phi công của ta không biết ngoại ngữ này. “Cái khó ló cái khôn”, sau khi trao đổi, một “sáng kiến” đã được đưa ra: Nguyễn Thành Trung, Trần Văn On và Trần Ngọc Xanh dịch chữ trên các núm, nút công tắc ra tiếng Việt, sau đó viết ra giấy và dán đè lên phần chữ tiếng Anh.
Sáng 24-4-1975, việc bay thử được tiến hành trên 2 chiếc A-37 đã được thợ máy khắc phục và chuẩn bị xong. Sau bay thử, cả 2 máy bay đều tốt. Khi các phi công bước vào thực hành bay chuyển loại, khó khăn lại xuất hiện, do các thiết bị trên máy bay A-37 bố trí hoàn toàn khác so với máy bay mà các phi công của ta đã khai thác trước đó. Nhằm “hóa giải” những khó khăn đặt ra, các phi công học mọi lúc, mọi nơi, kể cả trước khi đi ngủ... Do vậy, trình độ kỹ thuật lái của mỗi phi công được củng cố vững chắc hơn qua mỗi chuyến bay.
Sáng 27-4, kỳ huấn luyện chuyển loại “thần tốc” trong ba ngày rưỡi đã hoàn thành. Trưa cùng ngày, toàn phi đội chuyển từ Đà Nẵng vào sân bay Phù Cát (Bình Định cũ). Sáng 28-4, bốn phi công lái 4 chiếc A-37 chuyển sân từ Phù Cát vào sân bay Thành Sơn (Ninh Thuận) trước để bay kiểm tra. Buổi chiều tổ kỹ thuật sửa thêm được một chiếc nữa, chiếc này do phi công Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On bay vào sau.
Tại sân bay Thành Sơn, Bộ tư lệnh Quân chủng cùng phi đội bàn bạc, thảo luận kế hoạch tác chiến, xác định quyết tâm và mục tiêu đánh bom, phân công vị trí bay trong đội hình, tổ chức hiệp đồng, dự kiến tình huống bất trắc và cách xử trí. Để bảo đảm bí mật tuyệt đối, phi đội quy định không nói qua vô tuyến điện mà chỉ dùng micrô bóp theo ký hiệu khi bay qua các điểm kiểm tra. Sự chuẩn bị chu đáo ở dưới mặt đất đã tạo điều kiện cho phi đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Trận tập kích "3 quy", "4 tự"
Với tinh thần “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, quyết thắng”. Khoảng 14 giờ ngày 28-4-1975, đồng chí Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, trực tiếp giao nhiệm vụ cho phi đội. Để giữ bí mật và gây bất ngờ, phi đội tuân thủ nghiêm ngặt "3 quy định": Bay trùng đường bay địch hằng ngày để chúng không nghi ngờ; bay thấp để tránh radar phát hiện; tuyệt đối không dùng hệ thống liên lạc vô tuyến điện.
Trong phi đội chỉ có Nguyễn Thành Trung và Trần Văn On biết địa bàn Sài Gòn và mục tiêu không kích. Do vậy các phi công phải thực hiện theo phương châm 4 tự: Tự đi, tự tìm, tự đánh, tự về. Cũng trong buổi giao nhiệm vụ này, phi đội chính thức được đặt tên là “Phi đội Quyết Thắng".
Cựu phi công Nguyễn Văn Lục nhớ lại: "Thời điểm ấy, mệnh lệnh “thần tốc” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thấm vào tâm tư, tình cảm, trách nhiệm cả phi đội nên bằng mọi giá, Phi đội Quyết thắng phải thực hiện cho bằng được mệnh lệnh đó". Đúng 16 giờ 17 phút ngày 28-4-1975, phi đội 5 chiếc A-37 được lệnh xuất kích. Phi công Nguyễn Thành Trung người thành thạo địa hình được phân công dẫn đầu, tiếp theo là Từ Đễ số 2, Nguyễn Văn Lục số 3, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On số 4, Hán Văn Quảng số 5, mỗi máy bay mang 4 quả bom. Sau khi xuất kích, phi đội bay dọc theo bờ biển, đến ngã ba sông Sài Gòn vòng phải, hướng về sân bay Tân Sơn Nhất. Khi còn cách mục tiêu khoảng 20km, các số thực hiện kéo dài đội hình, mỗi số cách nhau từ 600-800m và lấy độ cao lên 2.000m. Tiếp đó lần lượt từng chiếc bổ nhào vào không kích mục tiêu, phi đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ném 18 quả bom trúng mục tiêu, cả sân bay như một biển lửa, những cột khói đen cao ngất cuồn cuộn bốc lên.
Trong phi đội chỉ có Nguyễn Thành Trung và Trần Văn On biết địa bàn Sài Gòn và mục tiêu không kích. Do vậy các phi công phải thực hiện theo phương châm 4 tự: Tự đi, tự tìm, tự đánh, tự về. Cũng trong buổi giao nhiệm vụ này, phi đội chính thức được đặt tên là “Phi đội Quyết Thắng".
Cựu phi công Nguyễn Văn Lục nhớ lại: "Thời điểm ấy, mệnh lệnh “thần tốc” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thấm vào tâm tư, tình cảm, trách nhiệm cả phi đội nên bằng mọi giá, Phi đội Quyết thắng phải thực hiện cho bằng được mệnh lệnh đó". Đúng 16 giờ 17 phút ngày 28-4-1975, phi đội 5 chiếc A-37 được lệnh xuất kích. Phi công Nguyễn Thành Trung người thành thạo địa hình được phân công dẫn đầu, tiếp theo là Từ Đễ số 2, Nguyễn Văn Lục số 3, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On số 4, Hán Văn Quảng số 5, mỗi máy bay mang 4 quả bom. Sau khi xuất kích, phi đội bay dọc theo bờ biển, đến ngã ba sông Sài Gòn vòng phải, hướng về sân bay Tân Sơn Nhất. Khi còn cách mục tiêu khoảng 20km, các số thực hiện kéo dài đội hình, mỗi số cách nhau từ 600-800m và lấy độ cao lên 2.000m. Tiếp đó lần lượt từng chiếc bổ nhào vào không kích mục tiêu, phi đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ném 18 quả bom trúng mục tiêu, cả sân bay như một biển lửa, những cột khói đen cao ngất cuồn cuộn bốc lên.


