ANH HÙNG NGUYỄN VĂN NI
Đ.óng đ.inh vào đầu gối, đ.ập vào mắt cá chân, rồi đ.â.m cây sắt nướng đỏ x.uyên qua bắp chân — đó là những n.gục hình t.àn b.ạo mà bọn cai tù á.c ô.n ở Trại giam Phú Quốc đã trút xuống người Bí thư Đảng ủy Phân khu Nguyễn Văn Ni hòng bẻ gãy ý chí của người chiến sĩ cách mạng. Thế nhưng, giữa chốn "địa ngục trần gian" tăm tối ấy, sau mấy lần ch.ết đi sống lại dưới đòn thù kh.ốc li.ệt, ông vẫn kiên trung nhất quyết không khai báo nửa lời. Dù thân xác bị t.àn ph.á nặng nề, ông vẫn cố gượng đứng dậy, ph.un m.áu, qu.át thẳng vào mặt kẻ thù: “Bọ.n m.ày là quân b.án nước!”, đả đảo Mỹ xâm lược cùng bè lũ tay sai và dồn sức hô vang: “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”. Do bị t.ra t.ấn d.ã m.an và liên tục, thân thể bị h.ủy ho.ại, đôi chân không còn đi lại được, ông rơi vào trạng thái hoàn toàn kiệt sức. Dù không thể ăn uống gì và người dính đầy m.áu khô, đôi mắt ông vẫn sáng ngời niềm tin tất thắng. Đến cuối tháng 12 năm 1969, chính vì bị kiệt sức do những đòn t.ra t.ấn t.àn b.ạo kéo dài nơi ngục tối, người con ưu tú 46 tuổi của Đất thép Củ Chi đã trút hơi thở cuối cùng, để lại sự tiếc thương vô hạn và ngọn lửa đấu tranh bất diệt cho các đồng đội còn ở lại. Sự h.y s.inh lẫm liệt ấy là đỉnh cao về khí tiết kiên trung của ông — người thợ rèn Củ Chi đã dùng tay nghề đúc rèn vũ khí đ.ánh giặc, dùng bản lĩnh trực tiếp chỉ huy ch.iến đ.ấu ngoài mặt trận, và biến nhà tù thành trận tuyến đấu tranh kiên cường đến phút cuối cùng. Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Ni (thường gọi Bảy Ni) sinh năm 1923 tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, trong một gia đình bần nông có cha làm nghề thợ rèn. Nghề nghiệp tưởng chừng bình dị ấy về sau lại trở thành một trong những nền tảng giúp ông đóng góp đặc biệt cho cách mạng. Từ nhỏ, ông đã học nghề từ cha, quen với lửa đỏ, sắt thép và cách tạo nên các vật dụng bằng chính đôi tay của mình. Khi phong trào cách mạng phát triển mạnh sau Cách mạng Tháng Tám năm
Đ.óng đ.inh vào đầu gối, đ.ập vào mắt cá chân, rồi đ.â.m cây sắt nướng đỏ x.uyên qua bắp chân — đó là những n.gục hình t.àn b.ạo mà bọn cai tù á.c ô.n ở Trại giam Phú Quốc đã trút xuống người Bí thư Đảng ủy Phân khu Nguyễn Văn Ni hòng bẻ gãy ý chí của người chiến sĩ cách mạng. Thế nhưng, giữa chốn "địa ngục trần gian" tăm tối ấy, sau mấy lần ch.ết đi sống lại dưới đòn thù kh.ốc li.ệt, ông vẫn kiên trung nhất quyết không khai báo nửa lời. Dù thân xác bị t.àn ph.á nặng nề, ông vẫn cố gượng đứng dậy, ph.un m.áu, qu.át thẳng vào mặt kẻ thù: “Bọ.n m.ày là quân b.án nước!”, đả đảo Mỹ xâm lược cùng bè lũ tay sai và dồn sức hô vang: “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”.
Do bị t.ra t.ấn d.ã m.an và liên tục, thân thể bị h.ủy ho.ại, đôi chân không còn đi lại được, ông rơi vào trạng thái hoàn toàn kiệt sức. Dù không thể ăn uống gì và người dính đầy m.áu khô, đôi mắt ông vẫn sáng ngời niềm tin tất thắng. Đến cuối tháng 12 năm 1969, chính vì bị kiệt sức do những đòn t.ra t.ấn t.àn b.ạo kéo dài nơi ngục tối, người con ưu tú 46 tuổi của Đất thép Củ Chi đã trút hơi thở cuối cùng, để lại sự tiếc thương vô hạn và ngọn lửa đấu tranh bất diệt cho các đồng đội còn ở lại. Sự h.y s.inh lẫm liệt ấy là đỉnh cao về khí tiết kiên trung của ông — người thợ rèn Củ Chi đã dùng tay nghề đúc rèn vũ khí đ.ánh giặc, dùng bản lĩnh trực tiếp chỉ huy ch.iến đ.ấu ngoài mặt trận, và biến nhà tù thành trận tuyến đấu tranh kiên cường đến phút cuối cùng.
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Ni (thường gọi Bảy Ni) sinh năm 1923 tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, trong một gia đình bần nông có cha làm nghề thợ rèn. Nghề nghiệp tưởng chừng bình dị ấy về sau lại trở thành một trong những nền tảng giúp ông đóng góp đặc biệt cho cách mạng. Từ nhỏ, ông đã học nghề từ cha, quen với lửa đỏ, sắt thép và cách tạo nên các vật dụng bằng chính đôi tay của mình. Khi phong trào cách mạng phát triển mạnh sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông sớm giác ngộ, tham gia hoạt động và bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược. Nhận thấy ông vừa có tay nghề giỏi, vừa thông minh và sáng tạo, tổ chức phân công ông về Chi đội 312 làm nhiệm vụ sửa chữa và sản xuất vũ khí đơn giản. Trong những năm đầu kháng chiến vô cùng thiếu thốn, từ đôi tay tài hoa của người thợ rèn Củ Chi, nhiều vũ khí được sửa chữa, chế tạo từ vật liệu sẵn có, góp phần phục vụ bộ đội ch.iến đ.ấu và t.iêu h.ao lực lượng đối phương. Năm 1947, Nguyễn Văn Ni vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, trong bối cảnh nhiều lực lượng kháng chiến ở miền Nam tập kết ra Bắc, Nguyễn Văn Ni được cấp trên phân công ở lại địa bàn để xây dựng cơ sở và duy trì phong trào cách mạng. Để che giấu nhiệm vụ giữa vùng địch kiểm soát, ông tiếp tục sống bằng nghề thợ rèn như một vỏ bọc hợp pháp, bí mật sản xuất, sửa chữa vũ khí đóng góp trực tiếp vào thắng lợi của phong trào Đồng Khởi tại địa phương đầu năm 1960. Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Văn Ni được giao phụ trách công tác quân giới huyện Củ Chi. Khởi đầu gần như từ hai bàn tay trắng, ông từng bước xây dựng một số tổ quân giới với tổng cộng 11 người, tổ chức chế tạo nhiều loại vũ khí phục vụ ch.iến đ.ấu như chông, mìn, lựu đạn và đặc biệt là súng “ngựa trời” — thứ vũ khí tự tạo gắn liền với khả năng bám đất, giữ làng và duy trì sức ch.iến đ.ấu của lực lượng địa phương.
Năm 1966, Nguyễn Văn Ni được bổ nhiệm làm Đại đội phó. Từ một người thợ rèn làm công tác quân giới, ông trực tiếp bước ra chiến trường, chỉ huy đơn vị tham gia hàng chục trận đ.ánh. Từ ngày 8 đến 14 tháng 1 năm 1966, lực lượng Mỹ và Australia huy động khoảng 8.000 quân mở Chiến dịch Crimp tại khu vực Hố Bò nhằm tìm kiếm, ph.á h.ủy hệ thống căn cứ ngầm của ta. Trên chiến trường c.àn qu.ét d.ữ d.ội, ông nổi tiếng gan dạ; hình ảnh người chỉ huy mang trái mìn tự tạo do chính tay mình đúc xông lên phía trước, tiếp cận và đ.ánh n.ổ tung xe bọc thép của đối phương đã trở thành chi tiết đặc biệt khi nhắc đến cuộc đời ch.iến đ.ấu của ông. Tuy nhiên, đến cuối năm 1966, trong một trận chống c.àn á.c li.ệt, ông không may rơi vào bẫy và bị b.ắt. Ông bị g.iam tại Hố Nai, đến đầu năm 1968 tiếp tục bị chuyển ra Trại giam Phú Quốc và được các đồng chí tin tưởng bầu làm Bí thư Đảng ủy Phân khu tù binh A2.
Tại phân khu A2 Trại giam Phú Quốc, để che mắt địch và lãnh đạo phong trào đấu tranh, Bảy Ni thường giả vờ mượn cớ dùng miếng giấy nhám chà bóng cái ống vố hay đẽo vài con cờ tướng bằng gỗ để đi lại giữa các khu nhà g.iam, lắng nghe tâm tư anh em để chắt lọc thành các chủ trương cách mạng sâu sát. Dưới sự lãnh đạo bình tĩnh của ông, Đảng ủy A2 đã phát động cuộc đấu tranh lớn vào đúng ngày 23/11/1968 nhân kỷ niệm Nam Kỳ khởi nghĩa. Bằng lý lẽ sắc bén tố cáo hành vi đ.ánh đ.ập tù binh d.ã m.an của tên giám thị trưởng tên Hương, cuộc đấu tranh đã giành thắng lợi to lớn: buộc tên chỉ phụ trách trại giam phải tát kỷ luật tên Hương, điều hắn đi nơi khác và cho tù binh bầu Ban đại diện, tạo điều kiện cho anh em được học văn hóa, sinh hoạt dễ chịu hơn. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, địch đưa tên Nhu khét tiếng á.c ô.n về làm giám thị trưởng để lập lại trật tự, bắt đầu đợt t.àn s.át mới. Ông bị địch đưa khỏi A2 sang khu bi.ệt g.iam và t.ra t.ấn d.ã m.an hòng tìm tung tích các đồng chí lãnh đạo. Dù chịu muôn vàn đòn thù đ.ộc á.c, ông vẫn giữ vững khí tiết kiên trung cho đến ngày kiệt sức và h.y s.inh vào cuối tháng 12 năm 1969.
Sau ngày đất nước thống nhất, chính quyền huyện Phú Quốc đã tìm được hài cốt của ông cùng một số đồng chí, trên thi thể vẫn còn nguyên những cây đ.inh mà kẻ thù đã đ.âm vào. Năm 1997, hài cốt của ông được quy tập trở về quê nhà Củ Chi. Ngày 22 tháng 7 năm 1998, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Quyết định số 342/KT/CTN truy tặng liệt sĩ Nguyễn Văn Ni danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Để tri ân người con ưu tú, tên của ông đã được đặt trang trọng cho đường số 21 (đường Nguyễn Văn Ni) tại thị trấn Củ Chi, kéo dài 1.230 mét từ Quốc lộ 22 đến Tỉnh lộ 8. Từ một người thợ rèn đến người chiến sĩ quân giới, từ một chỉ huy ngoài chiến trường đến Bí thư Đảng ủy kiên trung trong trại tù, cuộc đời Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Ni là biểu tượng cao đẹp về lòng yêu nước, trí tuệ và ý chí bất khuất của thế hệ đi trước trên quê hương Đất thép Củ Chi.
Sự h.y s.inh oanh liệt của Anh hùng Nguyễn Văn Ni là tượng đài vĩnh cửu về lòng kiên trung, khí tiết quật cường và tinh thần sắt đá của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Dẫu thân xác bị t.àn ph.á nơi chốn ngục tàn, nhưng tấm lòng sắt son với Tổ quốc của ông vẫn sáng ngời niềm tin tất thắng, trở thành ngọn đuốc soi đường cho bao thế hệ. Trân trọng và biết ơn sâu sắc trước những cống hiến, h.y s.inh vô bờ bến ấy, thế hệ trẻ hôm nay nguyện ghi nhớ bài học đắt giá về lòng yêu nước, từ đó không ngừng học tập, rèn luyện để góp sức xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Nếu cảm thấy xúc động và tự hào trước khí tiết kiên tr

