ANH HÙNG NGUYỄN VIẾT XUÂN (4)
1. Mở đầu: Khúc tráng ca của bộ đội Phòng không
Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nếu bộ binh mặt đất phải đối mặt với bom đạn cày xới, thì lực lượng Phòng không - Không quân lại là những người trực tiếp đương đầu với sức mạnh răn đe khủng khiếp nhất của đế quốc Mỹ: Lực lượng không quân hiện đại bậc nhất thế giới. Trận địa pháo cao xạ thường là nơi trống trải, đối mặt trực diện với những đường bổ nhào cắt bom của máy bay địch.
Giữa sự khốc liệt vô bờ bến ấy, tiếng hô vang dội: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!" của vị Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân đã xé toạc bầu trời, át cả tiếng bom rơi đạn nổ. Mệnh lệnh thép ấy không chỉ là lời động viên trong một trận đánh cụ thể, mà đã trở thành phương châm tác chiến, thành ngọn lửa truyền sức mạnh cho toàn lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ.
2. Từ người lính Bộ binh Điện Biên đến chiến sĩ Phòng không
Để có được một bản lĩnh chỉ huy kiên cường trước làn mưa bom bão đạn, Nguyễn Viết Xuân đã trải qua một quá trình tôi luyện gian khổ.
Tuổi thơ bần hàn: Nguyễn Viết Xuân sinh năm 1933 tại xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Sinh ra trong cảnh nghèo đói, lên 7 tuổi ông đã phải đi ở đợ ròng rã 10 năm cho nhà địa chủ, nếm trải đủ đòn roi, tủi nhục.
Giác ngộ lý tưởng: Tuổi thơ đầy nước mắt đã hun đúc trong ông khát vọng tự do cháy bỏng. Năm 18 tuổi (1951), ông xung phong nhập ngũ, tham gia chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông đã trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Điện Biên Phủ, nhiều lần vào sinh ra tử, bộc lộ tư chất của một người chỉ huy dũng cảm.
Chuyển sang lực lượng Phòng không: Hòa bình lập lại ở miền Bắc, Nguyễn Viết Xuân được cử đi học và biên chế vào lực lượng pháo cao xạ. Với sự thông minh, kỷ luật và khả năng thấu hiểu tâm lý chiến sĩ, ông được bổ nhiệm làm Chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 14, Trung đoàn Pháo cao xạ 214.
3. Đất lửa miền Tây Nghệ An và cuộc đụng độ sinh tử
Năm 1964, đế quốc Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh, sử dụng không quân đánh phá ác liệt miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Tháng 11 năm 1964, Đại đội 3 của Nguyễn Viết Xuân nhận nhiệm vụ bảo vệ bầu trời miền Tây tỉnh Nghệ An. Đây là một tọa độ lửa, nơi máy bay Mỹ ngày đêm rình rập, đánh phá nhằm chặt đứt tuyến đường giao thông huyết mạch của ta. Trận địa pháo cao xạ của đơn vị được đặt tại Cha Lo, một vị trí vô cùng hiểm yếu.
4. Mệnh lệnh bất tử giữa vòng vây lửa
Sáng ngày 18 tháng 11 năm 1964, tiếng kẻng báo động vang lên xé toạc không gian tĩnh lặng. Hàng tốp máy bay F-100 và F-105 của Mỹ gầm rít lao tới, điên cuồng trút bom và bắn đạn rocket xuống trận địa của Đại đội 3. Cả khu vực chìm trong biển lửa, đất đá tung tóe, khói bụi mù mịt không thấy mặt người.
Là Chính trị viên, lẽ ra Nguyễn Viết Xuân có thể ở dưới hầm chỉ huy, nhưng ông đã bất chấp hiểm nguy, lao lên mặt đất, chạy tới từng khẩu pháo để động viên các pháo thủ. Đang chiến đấu, một quả rocket nổ sát ngay bên cạnh. Nguyễn Viết Xuân bị thương nặng, nát một phần đùi phải, máu chảy ướt đẫm quân phục.
Đồng đội định cáng ông xuống hầm quân y, nhưng ông kiên quyết từ chối. Ông biết rằng, trong trận chiến phòng không chớp nhoáng, tinh thần của pháo thủ quyết định tất cả. Nếu người chỉ huy rời vị trí lúc này, tinh thần chiến đấu của anh em có thể bị lung lay.
Ông tự lấy tay giữ chặt vết thương, nhờ đồng đội cắt nát ống quần để ga-rô cầm máu tạm thời, rồi rướn người lên, hướng về phía máy bay địch đang lao xuống, dõng dạc hô lớn:
"Nhằm thẳng quân thù mà bắn!"
Tiếng hô của ông rền vang trên trận địa, truyền một luồng điện mạnh mẽ vào tim từng chiến sĩ. Những người lính pháo binh gạt nước mắt, nén đau thương, biến căm thù thành hành động. Các nòng pháo đồng loạt khạc lửa lên trời. Bị hỏa lực đánh trả quyết liệt và chính xác, đội hình máy bay Mỹ rối loạn, nhiều chiếc trúng đạn phải bỏ chạy tháo thân.
5. Sự hy sinh hóa thành sức mạnh vô song
Dù được cứu chữa, nhưng do vết thương quá nặng và mất nhiều máu, Anh hùng Nguyễn Viết Xuân đã trút hơi thở cuối cùng vào chiều cùng ngày, khi vừa tròn 31 tuổi.
Ông hy sinh, nhưng câu nói "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!" đã không chìm vào quên lãng. Mệnh lệnh ấy đã vượt ra khỏi biên giới của một trận địa, trở thành tiếng kèn xung trận, thành bản tuyên ngôn về ý chí đánh Mỹ của toàn lực lượng Phòng không – Không quân nói riêng và quân dân cả nước nói chung.
Khắp các mặt trận, từ bộ binh, hải quân đến các cô gái dân quân tự vệ, tất cả đều dấy lên một cao trào thi đua "Sống, chiến đấu và học tập theo gương liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân". Người ta thêu câu nói của ông lên mũ, viết lên báng súng, làm khẩu hiệu treo tại các trận địa để thề quyết tử với quân thù.
Ngày 1 tháng 1 năm 1967, liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
6. Kết luận: Tượng đài của người Chính trị viên
Trong quân đội, vai trò của người Chính trị viên là chăm lo tư tưởng, xây dựng bản lĩnh chiến đấu cho bộ đội. Nguyễn Viết Xuân đã hoàn thành xuất sắc vai trò ấy không chỉ bằng những lời giáo huấn, mà bằng chính máu xương và tinh thần xả thân của mình trong thời khắc quyết định.
Ngày nay, cái tên Nguyễn Viết Xuân đã được đặt cho nhiều trường học, con đường trải dài trên đất nước ta. Lịch sử dân tộc sẽ mãi mãi ghi nhớ hình ảnh người chỉ huy kiên cường đứng giữa trận địa mù mịt khói bom, bất chấp thân thể không còn nguyên vẹn, vẫn hiên ngang truyền ngọn lửa chiến đấu cho đồng đội. Ông chính là biểu tượng rực sáng nhất của tinh thần bất khuất, của khát vọng độc lập tự do mà không một thứ vũ khí tối tân nào của kẻ thù có thể khuất phục.



