Anh Hùng Nơi Phên Dậu Tổ Quốc
Đại diện cho lực lượng Công an nhân dân Vũ trang hoạt động tại vùng biên giới (nay là bộ đội Biên phòng). Ông chiến đấu mưu trí, sáng tạo ở vùng rẻo cao biên giới, đồng thời vận động nhân dân xóa mù chữ, tệ nạn nghiện hút, xây dựng lòng tin. Anh hùng đã hy sinh vì sốt rét ác tính sau khi làm việc quá sức. Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1967 và là một trong 5 chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang đầu tiên được tuyên dương.
Trên dải biên cương mù sương của Tổ quốc, nơi núi nối núi như những lớp thành lũy dựng bằng đá và mây, có một người chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang đã sống và cháy hết mình như một đốm lửa bền bỉ giữa đại ngàn. Ông là đại diện tiêu biểu cho lực lượng hoạt động nơi rẻo cao biên giới những năm tháng kháng chiến còn đỏ lửa, khi từng tấc đất đều thấm mồ hôi và cả máu của những người giữ gìn phên dậu nước nhà. Ngày ấy, biên giới không chỉ có tiếng suối rì rầm và gió hun hút qua vách đá. Ẩn trong màu xanh trùng điệp là bóng dáng của bọn phỉ, của kẻ thù lén lút gieo rắc chia rẽ, kích động đồng bào, phá hoại chính quyền cách mạng non trẻ. Trong bối cảnh ấy, ông cùng đồng đội bám bản, bám dân, coi rừng là nhà, coi đồng bào là ruột thịt. Đôi chân người chiến sĩ in dấu trên những con đường mòn quanh co như sợi chỉ vắt qua lưng núi, khi thì lội suối giữa mùa lũ, khi thì trèo đèo trong giá rét cắt da. Nhưng ông không chỉ cầm súng. Ông cầm cả cuốn vở, viên phấn và niềm tin. Ban ngày truy quét phỉ, đêm về lại nhóm bếp lửa, mở lớp xóa mù chữ cho bà con. Ánh đèn dầu leo lét trong căn nhà sàn nhỏ hắt lên gương mặt sạm nắng của người chiến sĩ, soi từng nét chữ đầu tiên còn run rẩy trên tay những cụ già, em nhỏ. Ông kiên nhẫn đánh vần từng âm, giảng giải từng con chữ, như thể gieo những hạt mầm tri thức xuống mảnh đất lâu nay chỉ quen với bóng tối. Ông còn vận động đồng bào bỏ thuốc phiện, xóa tệ nạn nghiện hút đã đeo bám bao bản làng. Công việc ấy không hề dễ. Có người nghi ngại, có kẻ bị kẻ xấu xúi giục chống đối. Nhưng bằng tấm lòng chân thành và sự gần gũi, ông dần dần cảm hóa họ. Ông cùng ăn, cùng ở, cùng làm nương rẫy, chia sẻ từng bát ngô, chén nước. Dần dần, bà con tin ông như tin vào lời thề trước núi rừng. Niềm tin ấy không ồn ào, nhưng bền chắc như rễ cây bám sâu vào đá. Trong chiến đấu, ông mưu trí và sáng tạo. Trước những toán phỉ lẩn khuất trong rừng sâu, ông không nóng vội. Ông nghiên cứu địa hình, dựa vào tai mắt của dân bản, tổ chức vây bắt gọn gàng, hạn chế đổ máu. Có những đêm, ông cùng đồng đội phục kích giữa sương lạnh, chỉ nghe tiếng tim mình đập hòa cùng tiếng côn trùng. Khi thời cơ đến, ông ra lệnh dứt khoát, nhanh như chớp. Nhiều toán phỉ bị xóa sổ, nhiều âm mưu bị bóc trần. Biên giới dần yên tiếng súng. Thế nhưng kẻ thù nguy hiểm nhất đôi khi không phải là viên đạn, mà là cơn sốt rét rừng âm thầm rình rập. Những năm tháng ấy, thuốc men thiếu thốn, điều kiện gian khổ. Ông làm việc quá sức, hết tuần tra lại họp dân, hết vận động lại huấn luyện chiến sĩ trẻ. Cơn sốt đến như một đám cháy ngầm trong cơ thể. Ban đầu chỉ là những cơn rét run giữa trưa nắng, rồi những trận sốt cao mê man. Đồng đội khuyên ông nghỉ ngơi, nhưng ông chỉ cười, bảo rằng biên giới chưa yên thì lòng chưa thể yên. Đến khi sốt rét ác tính quật ngã, ông vẫn nắm chặt tay đồng đội, dặn dò công việc còn dang dở, nhắc phải tiếp tục bám dân, giữ đất. Giữa núi rừng lộng gió, người chiến sĩ ấy đã khép lại cuộc đời mình trong lặng lẽ, như một ngọn lửa nhỏ tắt đi sau khi đã truyền hết hơi ấm cho người khác. Năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông trở thành một trong năm chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang đầu tiên được tuyên dương. Nhưng với đồng bào nơi biên giới, danh hiệu cao quý nhất không chỉ nằm trên tấm huân chương. Nó nằm trong ký ức về người cán bộ từng cõng gạo qua suối, từng dạy chữ dưới ánh đèn dầu, từng đứng giữa bản làng nói về tương lai không còn bóng phỉ. Thời hoa lửa đã lùi xa, nhưng câu chuyện về ông vẫn như mạch nước ngầm chảy dưới chân núi. Mỗi cột mốc biên cương hôm nay vững vàng hơn vì có những người như ông đã ngã xuống. Ông không chỉ giữ đất bằng súng đạn, mà còn giữ lòng người bằng niềm tin. Và chính điều đó đã làm nên dáng hình bất khuất của người chiến sĩ nơi phên dậu Tổ quốc.



