Anh hùng Phạm Đình Nghiệp: 21 năm, nhiều năm nữa vẫn sẽ tìm đồng đội
Người anh hùng ấy mang tên Phạm Đình Nghiệp, quê ở Phổ Cường, Quảng Ngãi – mảnh đất từng một thời máu lửa và là cái nôi nuôi lớn bao anh hùng cho đất nước. Chúng tôi đã có cuộc hành trình dài gần 1.000km để tìm gặp, tận mắt chứng kiến và lắng nghe những nỗi niềm của ông trong hành trình Nghĩa tình đồng đội đầy gian khổ của mình. Trong hàng chục trận đánh ấy, để đời nhất có lẽ là ba trận đánh địch ở Liên Trì (huyện Bình Sơn), đánh đồn Đầu Voi (huyện Sơn Tịnh), trận Núi Giàng (huyện Đức Phổ). Lựa

Trở về từ cuộc chiến đau thương đầy oai hùng của dân tộc, 21 năm sống trong hòa bình lại là 21 năm ông luôn đau đáu nỗi đau tìm cho được hài cốt các đồng đội. Không quản ngại lội suối băng rừng, hiểm nguy, ông cứ kiên trì như thế chỉ mong thực hiện được tâm niệm đưa các anh từ đất lạnh trở về trong hơi ấm của đông đội và quê hương.
Đồng đội của chúng tôi đã nằm dưới hào nước lạnh suốt 42 năm. Liệt sĩ đã hy sinh, họ không còn gì để mất. Tôi là người trong cuộc, tôi biết họ thiệt thòi như thế nào. Nếu không đưa họ trở về cùng gia đình thì ngàn năm sau họ sẽ vĩnh viên nằm lại trong lòng đất, tôi thấy có tội rất lớn với các gia đình liệt sĩ, với quê hương, đất nước. Cho nên, hễ ở đâu có thông tin về hài cốt liệt sĩ thì ở đó có mặt tôi. Dù phải vượt những chặng đường dài, vào bất cứ lúc nào, đơn vị nào, khó khăn trở ngại đến đâu, tôi đều lăn xả, vượt qua tất cả để tìm đồng đội.
Tôi tham gia cách mạng và nhập ngũ từ khi còn đôi mươi, là lính đặc công của tỉnh đội Quảng Ngãi, thuộc Đại đội 506A. Suốt năm năm kể từ ngày nhập ngũ, tôi xông pha mặt trận, tham gia 30 trận đánh, tự tay bắt và diệt 79 tên địch, đánh hỏng xe và thu hàng chục khẩu súng các loại... Trong chiến tranh, mỗi tấc đất giành được đều đo bằng máu thịt đồng đội, chiến sĩ ngã xuống. Trong hàng chục trận đánh ấy, để đời nhất có lẽ là ba trận đánh địch ở Liên Trì (huyện Bình Sơn), đánh đồn Đầu Voi (huyện Sơn Tịnh), trận Núi Giàng (huyện Đức Phổ).
Sau đêm tang thương đó, tôi gạt nước mắt, tiếp tục lăn xả trên các chiến trường, chiến đấu vì đồng đội đã ngã xuống cho đến khi đeo hàm trung tá, rời quân ngũ.
Năm 2007, tôi đã có thông tin chính xác về không gian, thời gian, địa điểm xảy ra trận đánh, điểm chôn tập thể các liệt sĩ, tìm được nhân chứng lịch sử sống là ông Sáu Phú. Tuy nhiên tôi đã bốn lần ra Hà Nội tìm nhờ sự giúp đỡ của các nhà nại cảm, hai lần ông làm tờ trình xin tỉnh để hỗ trợ khai quật nhưng cả hai tờ trình ấy đều không được phúc đáp.
Hai chục năm qua, tôi cùng đồng đội tổ chức rất nhiều cuộc tìm kiếm, giúp các ngành chức năng tổ chức khai quật, lễ truy điệu, an táng hơn 140 hài cốt liệt sĩ về nghĩa trang tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh phía Bắc như Hải Dương, Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Nội... và hai cuộc tìm kiếm, khai quật mộ tập thể có số lượng lớn.
Tôi làm việc này không mong nhận được lời cảm ơn. Nhưng thực tế đã có không ít gia đình liệt sĩ đã viết những bức thư tay vượt dài hàng nghìn cây số để bày tỏ lòng cảm kích trước tấm lòng của tôi. Tìm được đồng đội, tôi cũng hỗ trợ thêm kinh phí cho gia đình, hương hoa kính viếng những người đồng đội đã ngã xuống, chỉ mong các anh có được phút giây an nghỉ như hằng mong đợi.
Tôi không thích biểu dương, ca ngợi. Việc mình làm là vì đồng đội đã ngã xuống cho nền độc lập đất nước. Cái tôi muốn là mong sao các cơ quan chức năng, có thẩm quyền hãy mở rộng dân chủ hơn nữa, chặt chẽ như vậy là rất đúng nhưng mà phải vận dụng trường hợp để có thể xem xét tiếp nhận, chọn lọc thông tin chính thống từ những nhân chứng sống, thông tin xác thực có trong lịch sử. Nguyên tắc quá đôi lúc sẽ là rào cản, là có tội với liệt sĩ. Tôi chỉ mong muốn đồng đội của chúng tôi sớm được trở về quê, có nơi thờ cúng.
Đã là cái tâm thì không thể bỏ được. Chừng nào tôi còn sống, còn khỏe mạnh thì tôi vẫn tiếp tục tìm kiếm và giúp các gia đình liệt sĩ đưa các anh trở về quê nhà.


