ANH HÙNG PHẠM HỮU LẦU
ANH HÙNG PHẠM HỮU LẦU
Phạm Hữu Lầu (1906 - 16 tháng 12 năm 1959), là một trong 5 thành viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của An Nam Cộng sản Đảng. Sau cách mạng tháng 8, ông trải qua nhiều chức vụ của bộ máy nhà nước như Xứ ủy Nam Bộ, Bí Thư Xứ Uỷ

Thời niên thiếu, Phạm Hữu Lầu đã sớm tiếp xúc với tư tưởng tiến bộ của các bậc chí sĩ yêu nước; chứng kiến, thấu hiểu nỗi khổ của người dân mất nước, sớm hình thành ý chí cách mạng, đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Trong những năm 1925-1926, Phạm Hữu Lầu tham gia phong trào yêu nước, truy điệu và để tang chí sĩ Phan Chu Trinh; đòi ân xá chí sĩ Phan Bội Châu...
Tháng 9/1928, Phạm Hữu Lầu gia nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, là một nhân cốt lãnh đạo chi hội ở Cao Lãnh. Tháng 10-1929, Đồng chí trở thành một trong những đảng viên An Nam Cộng sản Đảng đầu tiên ở Nam Kỳ, đảng viên An Nam Cộng sản Đảng đầu tiên ở tỉnh Sa Đéc. Sau đó, Đồng chí “đi vô sản hóa” tại Đề pô xe lửa Dĩ An (tỉnh Thủ Dầu Một, nay là tỉnh Bình Dương).
Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Đồng chí Phạm Hữu Lầu được đề cử tham gia và trở thành ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam.
Giữa năm 1930, Đồng chí đi dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất ở Hương Cảng. Đến cảng Hải Phòng, Đồng chí bị mật thám Pháp bắt, giam tại nhiều nhà tù, đưa là xét xử, kết án tù chung thân, phát lưu và đày ra Côn Đảo.
Năm 1936, trước sự đấu tranh mạnh mẽ của Nhân dân ta, Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp đã phải quyết định ân xá cho một số lớn tù chính trị, trong đó có đồng chí Phạm Hữu Lầu. Sau khi ra tù, Đồng chí hoạt động trong tại Sài Gòn, Cao Lãnh, Rạch Giá... Tham gia nhóm Dân chúng (Le Peuple). Đến cuối năm 1939, Đồng chí lại bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai và kết án 5 năm tù giam, 10 năm cấm lưu trú; cuối năm 1940, đồng chí bị đày ra Côn Đảo. Trong những năm tháng bị giam cầm, Đồng chí đã tích cực tham gia các hoạt động đấu tranh trong tù, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh bảo vệ sinh mạng tù nhân ở Côn Đảo trước sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù sau Nam Kỳ khởi nghĩa. Đồng chí tham gia giành chính quyền tại Côn Đảo năm 1945. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tháng 9/1945, Đồng chí được Xứ ủy Nam Bộ đón trở về đất liền. Đồng chí là Trưởng đoàn tàu Phú Quốc chở hơn 400 tù chính trị trở về đất liền, cập bến Đại Ngãi (Sóc Trăng) an toàn vào ngày 23/9/1945.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Phạm Hữu Lầu được giao nhiều trọng trách: Bí thư Tỉnh uỷ Sa Đéc; Phó Bí thư Chủ nhiệm Việt Minh, Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến - Hành chính tỉnh Sa Đéc (từ năm 1945 đến năm 1949); Ủy viên Khu uỷ Khu 8, Đại diện Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ tại khu 8, Ủy viên Ban Kiểm tra dân - quân - chính Khu 8 (từ cuối năm 1949 đến tháng 5/1951); Bí thư Tỉnh ủy Mỹ - Tân – Gò (được thành lập trên cơ sở hợp nhất Mỹ Tho- Tân An- Gò Công), Uỷ viên Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Phân Liên khu miền Đông, phụ trách vùng Đồng Tháp Mười (từ tháng 5/1951 đến tháng 12/1952); Uỷ viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ phụ trách Công an, Thương binh và Cựu binh, Giám đốc Sở Công an Nam Bộ,...
Tháng 10/1954, tại Hội nghị thành lập Xứ uỷ Nam Bộ, đồng chí Phạm Hữu Lầu được bầu làm Uỷ viên Thường vụ, Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Từ tháng 6/1957, Đồng chí làm Quyền Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Cuối năm 1957, Đồng chí thôi đảm nhiệm chức vụ Quyền Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, do bệnh lao phổi nặng. Đồng chí vẫn tiếp tục tham gia chỉ đạo trong Xứ ủy Nam Bộ cho đến khi hy sinh vào ngày 16/12/1959, tại Phnôm Pênh (Vương quốc Campuchia).
Năm 1985, lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp đưa hài cốt Đồng chí về cải táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh (phường Mỹ Trà) và quyết định đặt tên Trường Chính trị tỉnh là Trường Phạm Hữu Lầu (nay là Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp).
Ngày 10/5/2024, Bộ Chính trị công nhận đồng chí Phạm Hữu Lầu là lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam¹.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phạm Hữu Lầu là tấm gương tiêu biểu về bản lĩnh, khí tiết và lòng trung thành son sắt của người chiến sĩ cộng sản. Những cống hiến to lớn của Đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc sẽ mãi được các thế hệ ghi nhớ, trân trọng và noi theo.


