ANH HÙNG PHẠM NGỌC LỰC – MỘT ĐỜI CHỊU ĐÓI,CHỊU ĐAU VÌ DÂN TỘC (1)
Thông tin nhân chứng - Họ và tên: Phạm Ngọc Lực - Năm sinh: 1950 - Quê Quán: Đông Phong,Đông Hưng,Đông Quan - Tóm tắt quá trình cống hiến: Ông không học cấp 3,ông chỉ học đến lớp 7 Trường cấp 2 Châu Giang (cũ) thì đã xin nhập ngũ để tìm đường cứu nước cùng dồng bào,ông đảm nhiệm trức vụ làm trợ lý đầu bảng tác(chuyên môn cam vẽ thiết kế đồ hoạ tác chiến để chuẩn bị cho các chiến dịch của quân ta),hiện tại ôg đã về hưu và sống yên bình cùng với gia đình sau chiến tranh
Ông sinh năm 1950, quê ở Đông Phong, Đông Hưng, Đông Quan. Lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, tuổi thơ của ông không gắn với những ước mơ riêng tư mà sớm mang dáng dấp của trách nhiệm. Học đến lớp 7, ông quyết định gác lại con chữ, tình nguyện nhập ngũ để tìm đường cứu nước, bước vào cuộc đời người lính với trái tim trong sáng và lòng yêu nước cháy bỏng.
Trong thời gian hoạt động cách mạng, ông từng nằm vùng suốt bốn tháng tại một gia đình ở pleiku.Đó là quãng thời gian đầy hiểm nguy. Trong gia đình ấy có một người con trai theo ngụy. Mỗi lần người con trai trở về, bà cụ – người mẹ hiền hậu trong gia đình – lại lặng lẽ giấu ông đi nơi khác để bảo toàn tính mạng cho ông. Sự che chở âm thầm ấy là minh chứng cho tình người sâu nặng giữa bom đạn chiến tranh. Thế nhưng, số phận nghiệt ngã đã cướp đi sinh mạng người con trai ấy khi anh ta chết vì bom do chính ngụy gài. Chiến tranh tàn khốc đến mức không chừa một ai.
Trong quân ngũ, ông đảm nhiệm công việc trợ lý đầu bảng tác chiến. Ông chuyên vẽ, thiết kế đồ họa tác chiến để phục vụ cho các chiến dịch. Đó là công việc thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng, đòi hỏi trí tuệ, sự chính xác và tinh thần trách nhiệm cao. Tháng 3 năm 1972, ông tham gia trận chiến đầu tiên trong đời. Điều đặc biệt là khi lần đầu bước vào tác chiến, ông không hề cảm thấy hồi hộp, cũng không biết sợ chết là gì. Giữa ranh giới sống – chết mong manh, trong ông chỉ có một ý nghĩ duy nhất: hoàn thành nhiệm vụ.
Cuộc đời quân ngũ của ông là chuỗi ngày gian khổ triền miên. Suốt cả thời gian chiến đấu, ông không có lấy một ngày nghỉ phép, không được về thăm gia đình, không có lương cho đến tận ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Tài sản của ông chỉ vỏn vẹn một bộ quần áo được cấp, cái ăn thì thiếu thốn đến cùng cực. Đỉnh điểm của nạn đói là vào các năm 1970–1971, sau khi bọn Pôn Pốt ở Campuchia đứng lên lật đổ chính quyền và đuổi bộ đội ta về phía Lào. Người chuyên mua gạo cho đơn vị bị lộ thân phận, buộc cách mạng phải rút đi, khiến bộ đội rơi vào cảnh đói triền miên.
Trong suốt khoảng ba tháng, mỗi tiểu đội chỉ được cấp một lon gạo khoảng tám lạng. Ai ốm muốn nấu cháo cũng phải xét xem có ốm thật hay không. Những tháng đầu, tiểu đoàn của ông thậm chí chưa mua được gạo, phải cứu đói bằng cách hái chuối rừng để ăn. Chuối rừng không muối khiến bụng trương phình, người mệt lả. May mắn thay, ông và đồng đội gặp được các anh em dân tộc có kinh nghiệm ăn củ nâu, nhờ đó cơn đói phần nào được đẩy lùi.
Sau tháng 3 năm 1971, ông An vào thăm đơn vị và làm tặng các chiến sĩ một bài thơ để ghi nhận những tháng ngày gian khổ ấy. Trong đó có những câu thơ xúc động:
“Em biết những ngày anh ở Quảng Nam
Hạt gạo chẳng còn muối cũng khan
Củ nâu rãi đắng ăn chừng bữa
Nhưng có lúc nào nguôi miền Nam.”
Sau giai đoạn ấy, quân đội mới mua được đỗ xanh. Suốt ngày, ông và đồng chí phải ăn đỗ,nhưng đỗ xanh ăn không rất khó nuốt và họ nghĩ ra đủ cách: ngâm đỗ cho nảy mầm thành giá để xào nấu. Mãi về sau, mới mua được gạo nếp,bữa ăn của mọi người mới được cải thiện và đỡ phần kham khổ
Trong những năm tháng chiến đấu, đồng đội thân thiết nhất của ông là anh Trần Ngọc Nghiên – người sau này trở thành đại tá, giáo viên Học viện Chính trị, hiện đã nghỉ hưu và đang sống tại Cầu Giấy, Hà Nội. Tình đồng đội của họ được hun đúc từ đói rét, hiểm nguy và niềm tin sắt đá vào ngày chiến thắng.
Nhưng mất mát lớn nhất trong cuộc đời quân ngũ của ông là cái chết của người chiến sĩ Lê Đức Thọ. Trong một lần hai người nằm chung hầm, quân địch bất ngờ ném bom. Mảnh bom bay qua người ông rồi găm thẳng vào người đồng đội, cướp đi mạng sống của anh ngay trong khoảnh khắc. Nỗi đau ấy trở thành vết thương không bao giờ lành trong ký ức của ông.
Ngày Việt Nam hoàn toàn giải phóng, ông vỡ òa trong niềm sung sướng, vui mừng, xen lẫn cảm giác mong ngóng được trở về thăm gia đình sau bao năm xa cách. Nhìn lại chặng đường đã qua, ông không tiếc tuổi trẻ, chỉ coi đó là điều hiển nhiên của một người con đất Việt trong thời loạn.
Gửi gắm đến thế hệ học sinh hôm nay, ông chỉ nói một điều giản dị mà sâu sắc:
“Các cháu cố gắng học, học để thành tài.”
Đó không chỉ là lời nhắn nhủ, mà còn là kết tinh của cả một đời người đã hy sinh tất cả để thế hệ sau được sống trong hòa bình, đủ đầy.


