ANH HÙNG PHẠM VĂN CÁN – “BÁC SĨ XE TĂNG” GAN DẠ, KIÊN CƯỜNG TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CHIẾN TRƯỜNG
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Văn Cán sinh năm 1952, quê ở xã Minh Tân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Sinh ra trong gia đình có chín anh chị em, trong đó có bốn người tham gia quân ngũ, Phạm Văn Cán sớm gắn bó với con đường binh nghiệp, góp sức mình vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Sau khi được tuyển chọn vào khóa đào tạo lái xe tăng của Binh chủng Tăng thiết giáp tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, anh được lựa chọn là một trong hai học viên chuyên đào tạo điều khiển và sử dụng xe tăng cứu kéo. Đây là loại xe đặc chủng do Liên Xô viện trợ, có trọng lượng hơn 50 tấn, được trang bị hệ thống cần cẩu, nâng và kéo, chuyên làm nhiệm vụ cứu hộ những xe tăng, xe thiết giáp bị hư hỏng hoặc mắc kẹt trên chiến trường. Khi ấy, chỉ có hai chiếc xe tăng cứu kéo được tăng viện cho các chiến trường B.3 và B.2, cho thấy tính chất đặc biệt và tầm quan trọng của nhiệm vụ mà anh đảm nhận.
Tháng 3/1972, sau khi tiếp nhận hai xe cứu hộ tại Bằng Tường (Trung Quốc), Phạm Văn Cán cùng đồng đội đưa đoàn xe tăng hành quân về nước. Khi đoàn xe đến khu vực Bàu Nai, Lương Sơn, Hòa Bình, bất ngờ bị máy bay B-52 của địch ném bom dữ dội. Vượt qua hiểm nguy, đoàn xe tăng thiết giáp hơn 100 chiếc tiếp tục hành quân trong đêm, tiến về phương Nam theo tuyến đường Trường Sơn.
Đến Quảng Bình, đoàn chuyển hướng sang Trường Sơn Tây, đi theo đường 20 – Quyết Thắng, vượt sang đất bạn Lào. Trên suốt chặng đường, máy bay địch liên tục trinh sát, săn lùng và ném bom các mục tiêu cơ động. Không chỉ phải bảo đảm an toàn cho phương tiện của mình, những người lính xe tăng cứu kéo còn thường xuyên thực hiện nhiệm vụ giải cứu xe tăng, xe thiết giáp của ta bị trúng đạn, mắc kẹt dưới hố bom.
Trong quá trình hành quân, một chiếc xe cứu kéo do đồng đội của Cán là Mạnh điều khiển bị trúng đạn, hư hỏng và phải nằm lại chờ sửa chữa. Do yêu cầu cấp bách của chiến trường, Phạm Văn Cán được lệnh sử dụng chiếc xe cứu hộ mang số hiệu B826 vượt lên trước, chuyển hướng vào chiến trường B.2, thay vì tiếp tục hành quân theo nhiệm vụ ban đầu đến B.3 ở Tây Nguyên.
Sau gần bốn tháng vượt rừng, băng núi, lội suối và đối mặt với những đợt đánh phá ác liệt của địch, đoàn xe tăng thiết giáp đã đến Tây Ninh, sẵn sàng bước vào những trận chiến đấu mới. Với tinh thần trách nhiệm và những đóng góp trong hành trình đặc biệt ấy, Phạm Văn Cán được đơn vị cử tham dự Hội nghị thi đua của Binh chủng Tăng thiết giáp tổ chức tại Lộc Ninh.
Đêm 2/11/1972, theo mệnh lệnh của cấp trên, chiếc xe tăng cứu kéo của Phạm Văn Cán cùng đội hình xe tăng thiết giáp B.2 thuộc Tiểu đoàn 21 rời căn cứ Bù Đốp, phối hợp với lực lượng đặc công Trung đoàn 429 bao vây, tiến công chi khu Bù Bông. Đây là một trận đánh quan trọng nhằm tiến công hệ thống cứ điểm của địch tại khu vực, góp phần tạo điều kiện cho các hoạt động quân sự tiếp theo.
Trận chiến kéo dài suốt ba ngày đêm, diễn ra vô cùng quyết liệt. Địch sử dụng pháo binh hạng nặng và máy bay A-37 liên tục ném bom, bắn phá nhằm ngăn chặn bước tiến của quân ta. Trong hoàn cảnh khói lửa mịt mù, nhiều đợt tiến công bị hỏa lực đối phương cản trở, nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật và cứu kéo phương tiện chiến đấu càng trở nên cấp thiết.
Không quản hiểm nguy, Phạm Văn Cán cùng hai chiến sĩ điều khiển chiếc xe cứu kéo đặc chủng tiến thẳng vào trận địa, đưa năm xe K-36 bị địch bắn hỏng và một xe T-54 bị lún sâu dưới hố ra khỏi vị trí nguy hiểm. Cũng trong chiến dịch này, anh cùng đồng đội thu hồi được bảy xe thiết giáp M113 của địch làm chiến lợi phẩm.
Những công việc tưởng chừng chỉ thuộc lĩnh vực kỹ thuật ấy lại diễn ra ngay giữa chiến trường ác liệt, nơi mỗi lần tiếp cận một phương tiện hư hỏng đều có thể đối mặt với bom đạn và cái chết. Người lính xe tăng cứu kéo không chỉ cần nắm vững kỹ thuật, mà còn phải có lòng dũng cảm, sự bình tĩnh và quyết đoán để bảo toàn phương tiện, góp phần duy trì sức chiến đấu của đơn vị.
Trong nhiều trận chiến đấu của Tiểu đoàn 21 tại Dầu Tiếng, Bến Cát và Bình Long, Phạm Văn Cán vẫn nhớ sâu sắc trận đánh tại ấp An Điền – Chơn Thành vào đầu tháng 4/1975, thời điểm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đang tiến đến giai đoạn quyết định.
Lần ấy, chiếc xe cứu kéo đặc chủng của anh nhận lệnh tiến vào ấp An Điền để giải cứu một xe tăng bị hư hỏng. Qua nghiên cứu sa bàn, anh nắm được địa hình khu vực có hai cổng ra vào, bốn góc đều bố trí đồn địch. Tuy nhiên, do trời tối và địa hình phức tạp, chiếc xe của anh đang lần theo vết xích xe tăng thì bất ngờ lọt vào giữa trận địa đối phương. Pháo địch từ các hướng Bến Cát, Đồng Dù, Phú Giáo và Phú Hòa Đông liên tục trút xuống, biến khu vực thành một trận địa bom đạn vô cùng nguy hiểm.
Giữa làn đạn dày đặc, Phạm Văn Cán cùng hai chiến sĩ vẫn kiên trì tiến sâu vào trận địa để tìm phương tiện cần cứu kéo. Khi phát hiện chiếc xe tăng đầu tiên đang bốc cháy dữ dội, không thể đưa ra ngoài, anh tiếp tục chấp hành mệnh lệnh, chuyển sang giải cứu chiếc xe thứ hai. Dưới hỏa lực xối xả của địch, anh điều khiển xe tiếp cận, móc cáp và kéo thành công chiếc xe tăng ra khỏi khu vực nguy hiểm.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Chưa dừng lại, anh tiếp tục đưa xe vào lần thứ ba để cứu kéo một chiếc tăng khác bị hỏng, nằm sâu dưới hố bom. Trong lúc một chiến sĩ chui xuống gầm xe để móc cáp, Cán liên lạc với sở chỉ huy, đề nghị hỏa lực yểm trợ cho việc kéo xe ra ngoài.
Bất ngờ, chiếc xe cứu kéo khựng lại rồi chết máy. Khói khét lẹt bốc lên, mảnh đạn va vào nắp tháp xe kêu loảng xoảng. Một mảnh đạn găm vào sườn Phạm Văn Cán. Dù bị thương giữa tình thế vô cùng nguy cấp, anh vẫn nghiến răng chịu đau, sử dụng khí chữa cháy, bình tĩnh khởi động lại xe và đưa phương tiện thoát khỏi trận địa.
Sự gan dạ, bình tĩnh và tinh thần đặt nhiệm vụ lên trên bản thân của Phạm Văn Cán đã góp phần bảo vệ phương tiện chiến đấu, hỗ trợ đồng đội tiếp tục thực hiện nhiệm vụ trong thời khắc quyết liệt của cuộc kháng chiến. Sau trận đánh, anh được trao tặng Huân chương Quân giải phóng hạng I.
Người lính thầm lặng góp sức vào ngày toàn thắng
Sau trận chiến tại An Điền – Chơn Thành, Phạm Văn Cán được điều về Ban Bảo đảm kỹ thuật sửa chữa của Miền. Anh tiếp tục cùng đơn vị hành quân theo cánh quân hướng Tây, vượt sông Vàm Cỏ, qua Đức Hòa, Đức Huệ, tiến về ngã tư Bảy Hiền, góp sức trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Ngày 15/1/1976, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Trung sĩ Phạm Văn Cán, ghi nhận những thành tích xuất sắc và sự cống hiến của anh trong cuộc kháng chiến.
Phạm Văn Cán là hình ảnh tiêu biểu của người lính xe tăng cứu kéo – những chiến sĩ làm công việc bảo đảm kỹ thuật nhưng luôn có mặt ở những nơi nguy hiểm nhất. Họ không trực tiếp điều khiển xe tăng xung phong trong mọi trận đánh, song bằng kỹ năng chuyên môn, lòng dũng cảm và ý chí kiên cường, họ góp phần đưa những cỗ máy chiến đấu trở lại đội hình, bảo toàn lực lượng và duy trì sức tiến công của quân đội ta.


