ANH HÙNG PHẠM VĂN THỌ – BẢN LĨNH NGƯỜI CHIẾN SĨ TRÊN NHỮNG CHIẾN TRƯỜNG ÁC LIỆT
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Văn Thọ sinh năm 1950 tại xã Định Hải, huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa. Trong 21 năm quân ngũ, ông từng tham gia chiến đấu tại các chiến trường Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Lào, lập nhiều chiến công xuất sắc trên trận tuyến chống quân thù.
Ngày 20/3/1967, khi mới 17 tuổi, ông lên đường nhập ngũ tại Sư đoàn 304, Quân đoàn 2. Đến tháng 12/1967, ông được tăng cường về Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, Quân khu 4. Giai đoạn 1967–1975 ghi dấu những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ nhưng cũng rất đỗi vẻ vang trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Trong 8 năm, ông tham gia 40 trận đánh, chỉ huy đơn vị tiêu diệt hàng nghìn tên địch. Bản thân ông đã tiêu diệt 60 tên địch, bắt sống 36 tên và bắn rơi tại chỗ một máy bay lên thẳng. Nhớ lại những năm tháng ấy, ông chia sẻ: “Chiến trường nào cũng khốc liệt, nhưng trận chiến nào cũng quyết chiến thắng. Riêng bản thân đã diệt 60 tên, bắt sống 36 tên, bắn rơi tại chỗ một máy bay lên thẳng. Hàng chục trận đánh, rất nhiều kỷ niệm, không bao giờ quên được”.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, ông tham gia chiến đấu chống địch phản kích tại thành phố Huế. Đêm 5/2/1968, ông nhận lệnh cùng Trung đoàn tiến vào nội thành, chiến đấu tại khu vực chợ Đông Ba. Khoảng 3 giờ sáng ngày 27/2, đơn vị nhận lệnh rút khỏi thành Huế; ông cùng một số đồng đội được giao nhiệm vụ chặn địch, bảo vệ đội hình Trung đoàn lui quân. Sử dụng súng trung liên RPD, ông bắn vào đội hình địch, tiêu diệt 11 lính Mỹ. Sau trận đánh, ông và một số đồng đội bị thất lạc tại cánh rừng A Lưới, đến ngày hôm sau mới được đơn vị đón về. Đây là chiến công đầu tiên trong cuộc đời chiến đấu của ông, tiếp thêm sức mạnh và niềm tin để ông vững vàng trong những trận đánh tiếp theo.
Đối với người chỉ huy trên chiến trường, sự bình tĩnh và nhanh trí trong xử lý tình huống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhớ lại trận đánh vào tháng 4/1972, khi đang giữ cương vị Đại đội trưởng Đại đội 7, Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, chiến đấu tại Đồi 372, gần cứ điểm Động Tranh, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông vẫn nhớ rõ tình thế ác liệt lúc bấy giờ. Khi đơn vị nhận lệnh xung phong đánh chiếm gần đỉnh đồi, địch chống trả quyết liệt từ hai lô cốt. Trước tình hình đó, ông chỉ huy chiến sĩ bắn liên tiếp 12 quả đạn B40 vào các lô cốt địch. Kết quả, quân ta chiếm được Đồi 372 và cắm cờ trên đỉnh đồi. Những trận đánh ấy thể hiện tinh thần dũng cảm, sự mưu trí và khả năng chỉ huy kiên quyết của ông trước những tình huống cam go nơi chiến trường.
Với tinh thần anh dũng, kiên cường trong chiến đấu và những thành tích xuất sắc trong chỉ huy các trận đánh, ngày 6/11/1978, ông vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp của ông trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
Sau 21 năm phục vụ trong quân đội, những ký ức chiến trường vẫn in đậm trong tâm trí người chiến sĩ năm xưa. Ông luôn nhớ cuộc gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào tháng 5/1984, tại Lễ kỷ niệm 30 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Xúc động kể lại kỷ niệm ấy, ông cho biết Đại tướng đã căn dặn cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lòng, một dạ phục vụ Nhân dân, giữ nghiêm kỷ luật và luôn cảnh giác trước mọi âm mưu của kẻ thù.
Cuộc đời chiến đấu của Anh hùng Phạm Văn Thọ là câu chuyện về một người lính trưởng thành qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt, luôn thể hiện lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và ý chí quyết chiến quyết thắng. Những chiến công trên chiến trường Thừa Thiên Huế cùng những năm tháng cống hiến trong quân ngũ góp phần làm sáng đẹp hình ảnh người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Câu chuyện về ông cũng nhắc nhở thế hệ hôm nay luôn trân trọng giá trị của hòa bình, ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước và tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.



