ANH HÙNG PHAN ĐỊCH (Liệt sĩ)
Phan Địch sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế, tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương từ năm 1962. Khi hy sinh (tháng 3 năm 1971), đồng chí là xã đội trưởng xã Phú Đa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
ANH HÙNG PHAN ĐỊCH
(Liệt sĩ)
Phan Địch sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế, tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương từ năm 1962. Khi hy sinh (tháng 3 năm 1971), đồng chí là xã đội trưởng xã Phú Đa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phan Địch xuất thân từ một gia đình có truyền thống cách mạng (cha bị địch bắt và giết, mẹ là cơ sở nuôi dưỡng che giấu cán bộ cách mạng, chị gái tham gia kháng chiến chống Mỹ, là huyện ủy viên, hy sinh năm 1972; anh tham gia cách mạng hy sinh năm 1968). Sẵn lòng căm thù giặc Mỹ và bè lũ tay sai đàn áp, giết hại nhân dân, trong đó có người thân trong gia đình, nên đồng chí sớm giác ngộ cách mạng.
Trong hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm, đồng chí vẫn kiên cường bám trụ tại địa phương, vận động nhân dân rào làng chiến đấu, tổ chức thành thế trận liên hoàn, nghiên cứu làm vũ khí tự tạo, chỉ huy lực lượng du kích xã đánh nhiều trận chống càn có hiệu quả, bảo vệ được nhân dân, cơ sở cách mạng. Đồng chí đã vận động nhân dân nuôi giấu cán bộ, bộ đội và thương binh, có đợt 750 thương binh được nuôi ở trong xã. Vận dụng sáng tạo giữa đấu tranh chính trị và tuyên truyền làm tan rã hàng ngũ địch. Đồng thời phối hợp với các lực lượng ở trên chỉ huy đánh nhiều trận xuất sắc tiêu hao nhiều sinh lực địch.
Trong 8 năm công tác và chiến đấu Phan Địch đã diệt 40 tên, bắt sống 21 tên, thu 17 súng, bắn cháy, bắn hỏng 6 xe tăng, bắn rơi 1 máy bay, bắn bị thương một chiếc khác. Trong xây dựng và chiến đấu đồng chí luôn chủ động, bình tĩnh, dũng cảm, chỉ huy vững vàng, mưu trí sáng tạo vận dụng linh hoạt, ứng xử kịp thời.
Tháng 3 năm 1966 du kích thôn do Phan Địch chỉ huy đã phối hợp với du kích xã đánh vào điểm bầu cử của địch, phá tan thùng bỏ phiếu, làm chết và bị thương 22 tên địch thu một số vũ khí.
Tháng 7 năm 1967, Phan Địch chỉ huy đội du kích xã phối hợp với đại đội 117, chặn đánh quân Mỹ - ngụy diệt 150 tên địch, bắn cháy 3 xe tăng và bắn bị thương nhiều chiếc khác. Riêng Phan Địch đã dũng cảm dùng mìn, lựu đạn diệt 2 xe tăng, tạo thuận lợi cho đơn vị xông lên tiêu diệt địch, buộc chúng phải rút khỏi xã.
Chuẩn bị cho quân ta tiến công vào thành phố Huế năm 1968 được trên giao nhiệm vụ, Phan Địch đã tổ chức, lãnh đạo toàn dân vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm để vận chuyển hàng hóa, lương thực cho các đơn vị, bố trí ăn, ở, bảo vệ 2 tiểu đoàn trước ngày ta tấn công một cách bí mật và an toàn. Quân ta tiến công vào An Cựu, diệt 150 tên, thu 18 súng. Phan Địch chỉ huy du kích xã và nhân dân bao vây địch, diệt 17 tên, giải phóng hoàn toàn thôn Hoà Đông. Địch cho máy bay đến giải tỏa, ta bắn rơi 1 chiếc, diệt 125 tên Mỹ, phá hủy 4 xe quân sự.
Tháng 3 năm 1971, Phan Địch bị địch bao vây lật hầm biết không sống được anh đã hủy tài liệu, xé tiền không để rơi vào tay quân thù. Phan Địch đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.
Ngoài chiến công trên, Phan Địch còn tham gia chỉ huy hàng chục lần các trận chống càn, nhiều lần làm cho Mỹ - ngụy thất điên bát đảo.
Đồng chí là tấm gương sáng về đức tính hy sinh, sống chân thành, quý trọng tình nghĩa, thương yêu anh em đồng đội, bảo vệ dân, che chở cho dân, được nhân dân quý mến.
Đồng chí đã góp phần xây dựng xã Phú Đa trở thành Đơn vị Anh hùng.
Phan Địch 2 lần được cử đi báo cáo điển hình ở Quân khu, được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng và danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và Dũng sĩ quyết thắng.
Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Phan Địch được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tăng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



