Bài viết

anh hùng Phan Đình Giót (1)

Hưng Yên25/12/2025Trường THPT Mỹ Hào (Trường THPT Mỹ Hào)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có biết bao tấm gương anh hùng đã sẵn sàng hi sinh cả tính mạng vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Một trong những tấm gương tiêu biểu, khiến bao thế hệ xúc động và kính phục, chính là anh hùng Phan Đình Giót, người đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954.

Phan Đình Giót sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh. Lớn lên trong cảnh đất nước bị xâm lược, anh sớm nuôi dưỡng lòng căm thù giặc và tinh thần yêu nước sâu sắc. Khi Tổ quốc cần, anh hăng hái lên đường nhập ngũ, tham gia quân đội nhân dân Việt Nam, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và là một chiến sĩ dũng cảm, gương mẫu trong đơn vị.

Năm 1954, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với ý đồ biến nơi đây thành “pháo đài bất khả xâm phạm”. Trước tình hình đó, quân ta quyết tâm mở chiến dịch Điện Biên Phủ nhằm tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm của địch. Phan Đình Giót cùng đơn vị được giao nhiệm vụ tấn công cứ điểm Him Lam, một vị trí phòng thủ kiên cố và vô cùng nguy hiểm.

Trong trận đánh ác liệt, khi bộ đội ta xung phong lên chiếm cứ điểm, một lỗ châu mai của địch liên tục bắn ra những loạt đạn dữ dội, ngăn cản bước tiến của quân ta. Nhiều chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trước làn đạn tàn khốc ấy. Tình thế trở nên vô cùng căng thẳng, nếu không tiêu diệt được lỗ châu mai này, trận đánh có thể thất bại và sẽ còn nhiều đồng đội ngã xuống.

Phan Đình Giót lúc đó đã bị thương nặng, máu chảy ướt đẫm áo. Dù đau đớn và kiệt sức, anh vẫn cắn răng bò lên phía trước. Anh hiểu rõ rằng: sự sống của mình lúc này không quan trọng bằng sự an toàn của đồng đội và thắng lợi của trận đánh. Trong giây phút quyết định, khi không còn cách nào khác để tiêu diệt lỗ châu mai, anh đã dồn hết sức lực cuối cùng, lao thẳng đến và lấy chính thân mình lấp kín họng súng của kẻ thù.

Hành động anh dũng ấy đã chặn đứng hỏa lực nguy hiểm của địch. Nhờ đó, đơn vị của anh nhanh chóng xông lên, tiêu diệt cứ điểm Him Lam, góp phần quan trọng vào thắng lợi vang dội của chiến dịch Điện Biên Phủ. Phan Đình Giót đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất chiến trường, hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Sự hi sinh của anh không chỉ mang ý nghĩa quyết định trong trận đánh mà còn trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Anh đã đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân và đồng đội lên trên cả tính mạng của bản thân. Tên tuổi của Phan Đình Giót mãi mãi được ghi nhớ, trở thành nguồn cảm hứng to lớn cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Câu chuyện về anh nhắc nhở chúng ta rằng: độc lập, hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương của biết bao người anh hùng. Là thế hệ trẻ, chúng ta cần trân trọng lịch sử, biết ơn sự hy sinh to lớn ấy và không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện để xứng đáng với những gì cha anh đã cống hiến cho Tổ quốc.

Có nơi nào như đất nước chúng ta

Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ

Khi giặc đến vạn người con quyết tử

Cho một lần tổ quốc được sinh ra

Kính thưa các vị đại biểu khách quý, ban giám khảo, và toàn thể hội thi. Chiến tranh đã qua đi, đất nước đã hoà bình, nhưng những đau thương, mất mát mà chiến tranh để lại thì không gì có thể bù đắp được. Em là Anh Thơ đến từ chi đội tdp Rừng với mong muốn được truyền lửa về lòng biết ơn, tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc đến tất cả mọi người thông qua câu chuyện “Bế Văn Đàn sống mãi”. Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn - Lấy vai mình làm giá súng.

(Hò dô ta kéo pháo..)

Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn sinh năm 1931 mất năm 1953. Quê ở huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Năm 1948 Bế Văn Đàn xung phong đi bộ đội giữa lúc cuộc chiến tranh đông dương đang quyết liệt, tham gia nhiều chiến dịch anh luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, không ngại khó khăn, nguy hiểm, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

( hành quân xa..)

Cuộc kháng chiến chống pháp đang trong giai đoạn khốc liệt, Đảng Cộng Sản Đông dương quyết định mở chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Đơn vị Bế Văn Đàn được lệnh hành quân đi chiến dịch.

Chờ nhạc

Vừa hành quân tới Cần giáo tỉnh Lai Châu nay là tỉnh Điện Biên, Trung đoàn 174 đại đoàn 316 của Bế Văn Đàn nhận được tin quân địch nhảy dù xuống Điện Biên và được cấp trên giao nhiệm vụ bằng mọi giá phải ngăn chặn và tiêu diệt quân địch tại khu vực Mường Pồn, không cho bước vào Cần Giáo. Tiểu đội Bế Văn Đàn gồm Pù, Vịnh, Chiến, Thênh, Thang và Bầu, được giao cho ngay khúc dưới chân dốc Mường Pồn. Lúc trời tờ mờ sáng, bỗng mặt đất rung chuyển, bầu trời như bị xé ra từng mảnh bằng một loại đại bác của quân địch bắn tập trung xuống Mường Pồn. Tiếng gầm, rít của máy bay radar lượn trên đầu. Quân Pháp phản kích lần 3 đại đoàn Việt Minh thương vong nhiều, Bế Văn Đàn cũng bị thương ở đầu, máu chảy ra ướt đẫm cả vai áo. Pù vội lao tới đỡ Đàn dậy cởi vội chiếc áo lót của mình băng bó cho anh.

Sau những đợt phản kích khốc liệt, đúng 8h tiếng súng im ắng hẳn, tiếp theo đó là tiếng la ó của những tên lính Pháp đang hô hét lao thẳng xuống dốc. 200m, 150m, rồi 100m chúng sách khẩu súng trên tay, đạn nổ ròn sượt qua ngay trước mặt. Khói bụi lên mịt mù, quân ta đang trong thế bất lợi, những chiến sĩ Chiến, Thênh, Thang và Bầu đã hy sinh, quân địch mỗi lúc một đông, tiếng súng đại bác không hồi kết. Pù cố nâng báng súng lên để chọn góc bắn nhưng không nổi, cánh tay anh cứng đơ và tê dại. Đang lúc bối rối tìm điểm đặt cây súng lên cao thì Bế Văn Đàn đột nhiên lao tới, hai tay nắm chặt lấy hai càng súng giơ lên cao hướng về phía quân địch , Pù ái ngại vết thương trên đầu anh, máu vẫn đang chảy ra nhiều Bế Văn Đàn hô lớn “ Bắn đi, Bắn đi , Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi, không bắn là có tội với cách mạng với nhân dân đấy''.

Tiếng hô của Bế Văn Đàn như mệnh lệnh chiến đấu vang lên trong trái tim, Pù nghiến răng bóp cò. Liên tiếp những loạt đạn nổ đanh thép từ khẩu Trung Liên càn quét vào đội hình của địch. Chiến đấu giằng với quân địch đến 12h trưa đợt tấn công cuối cùng của dịch đã bị Đàn, Pù bẻ gãy. Xác giặc chết ngổn ngang, Pù reo to: “ Thắng rồi, Đàn ơi nhìn kìa, Đàn ơi quân địch chết nhiều quá, Đàn ơi, Đàn ơi”. Pù đỡ Đàn dậy nhưng anh đã gục đầu chút hơi thở cuối cùng mà hai tay vẫn nắm chặt hai càng súng, Pù nhẹ nhàng đỡ hai bàn tay anh, ôm anh vào lòng .

Hình ảnh ấy đã trở thành một biểu tượng cao đẹp về ý chí chiến đấu ngoan cường nhằm thẳng quân thù mà bắn, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trận đánh kết thúc, chính trị viên đại đội giọng nghẹn ngào tuyên bố rất nghiêm trang và đầy xúc động: Tôi thay mặt Đảng tuyên bố kết nạp đồng chí Bế Văn Đàn vào Đảng Cộng Sản Việt Nam từ giờ phút này.

Trận chiến mang lại thắng lợi to lớn cho quân đội ta, song lại là một tổn thất to lớn với trung đoàn 174. Chiến thắng ngày ấy, sự hy sinh anh dũng của các anh, của chiến sĩ Bế Văn Đàn với hành động anh dũng lấy vai mình làm giá súng đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của hàng chục ngàn chiến sĩ Điện Biên, xuất phát từ lòng yêu nước, lòng dũng cảm xả thân vì tổ quốc, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, để giải phóng cho quê hương. Bế Văn Đàn là tấm gương tiêu biểu và quả cảm của quân và dân ta trên khắp mặt trận. Đó chính là nguồn sức mạnh vô song làm lên một thiên sử vàng của dân tộc anh hùng.

Là thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên trong thời bình. Không được chứng kiến những thời khắc căng go, khốc liệt của chiến tranh. Nhưng qua câu chuyện “ Bế Văn Đàn sống mãi” chắc hẳn mỗi chúng ta ngồi đây đều thấu hiểu thêm nhiều điều và càng thấm thía sự hy sinh gian khổ của các anh. Chúng em luôn luôn ghi nhớ và biết ơn công lao to lớn đó. Biết ơn Đảng và Bác Hồ. Tự hào về những trang sử hào hùng của dân tộc, chúng em sẽ luôn cố gắng, phấn đấu là con ngoan trò giỏi, cháu ngoan bác Hồ, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.

Ai cũng sẽ đi, chỉ là tôi đi trước

Giấc mộng tương lai, xin tiếp tục dựng xây

Nếu có thương tôi, hãy gắng nhớ lời này:

"Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”.

Chúng ta hãy kính cẩn nghiêng mình dành một phút tưởng nhớ những người anh hùng đời đời bất diệt trong cả thời chiến lẫn thời bình. Họ sẽ luôn luôn sống mãi trong lòng nhân dân, mãi mãi vinh quang.

1. LƯỢM – CHÚ BÉ CHẠY GIỮA TUỔI THƠ VÀ BOM ĐẠN

Lượm sinh ra trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Tuổi thơ của em không có những buổi trưa nằm võng nghe tiếng ru của mẹ, không có những ngày rong chơi vô tư trên cánh đồng làng. Thay vào đó là tiếng máy bay gầm rú trên đầu, là những lần chạy vội xuống hầm trú ẩn, là những buổi sáng thức dậy đã thấy thêm một mái nhà bị bom phá nát.

Dù còn rất nhỏ, Lượm đã sớm xin làm liên lạc cho cách mạng. Em yêu công việc ấy lạ lùng. Được chạy, được mang thư, mang tin cho các anh bộ đội khiến Lượm thấy mình như lớn hơn, như đang góp một phần nhỏ bé vào cuộc kháng chiến của dân tộc. Em thường khoác chiếc áo nâu rộng thùng thình, đội chiếc mũ tai bèo che nửa khuôn mặt non nớt, đôi chân trần lấm đầy bùn đất.

Những buổi chạy thư, Lượm phải băng qua cánh đồng trống trải, nơi chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng có thể khiến địch phát hiện. Nhưng Lượm không sợ. Em chạy rất nhanh, miệng khe khẽ huýt sáo, đôi mắt sáng long lanh. Trong khoảnh khắc ấy, Lượm vẫn là một đứa trẻ – hồn nhiên, vô tư, chưa kịp hiểu hết sự tàn khốc của chiến tranh.

Cho đến một buổi chiều, khi Lượm đang trên đường làm nhiệm vụ, giặc bất ngờ xuất hiện. Một tiếng súng khô khốc vang lên giữa không gian yên tĩnh. Lượm ngã xuống. Thân hình bé nhỏ nằm im trên mặt đất nóng rát. Bức thư quan trọng vẫn còn nằm trong tay em, chưa kịp trao cho người nhận.

Không ai nghe thấy tiếng Lượm kêu đau. Em ra đi lặng lẽ, như cách em vẫn âm thầm chạy qua bao cánh đồng. Tuổi thơ của Lượm dừng lại mãi mãi ở đó – giữa chiến trường. Nhưng chính từ nơi ấy, hình ảnh chú bé liên lạc nhỏ tuổi đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ và đau xót cho sự hy sinh của thế hệ trẻ Việt Nam.

2. MƯỜI CÔ GÁI NGÃ BA ĐỒNG LỘC – TUỔI XUÂN NẰM LẠI GIỮA BOM RƠI

Ngã ba Đồng Lộc là một vùng đất nhỏ, nhưng trong chiến tranh, nơi ấy lại mang một ý nghĩa vô cùng lớn. Đây là tuyến giao thông quan trọng nối hậu phương với tiền tuyến. Vì thế, bom Mỹ trút xuống Đồng Lộc ngày đêm, biến nơi đây thành một “tọa độ lửa”.

Mười cô gái thanh niên xung phong được phân công bám trụ tại đây. Họ đều rất trẻ, người lớn tuổi nhất cũng chỉ ngoài hai mươi. Mỗi cô mang theo một câu chuyện riêng, một nỗi nhớ riêng về quê nhà. Có cô nhớ mẹ già, có cô thương đàn em nhỏ, có cô cất giữ trong tim một mối tình chưa kịp ngỏ.

Giữa những giờ phút sinh tử, họ vẫn cười với nhau, vẫn động viên nhau cố gắng. Những đêm yên bom hiếm hoi, các cô ngồi bên nhau, kể về ước mơ ngày hòa bình. Có người muốn làm cô giáo, có người chỉ mong được mặc áo dài, đi chợ quê cùng mẹ. Những ước mơ ấy giản dị đến nao lòng.

Chiều hôm đó, khi một trận bom vừa dứt, mười cô gái lại lao ra đường. Đất đá còn vương khói, hố bom còn chưa kịp lấp xong thì máy bay địch quay lại. Lần này, bom rơi dồn dập, dữ dội hơn. Cả ngã ba rung chuyển. Khi mọi thứ lắng xuống, mười cô gái đã nằm lại dưới lòng đất sâu.

Không ai kịp gọi tên ai. Không ai kịp nói lời từ biệt. Tuổi xuân của họ dừng lại mãi mãi nơi ngã ba lửa đạn. Nhưng chính sự hy sinh ấy đã giữ cho con đường thông suốt, để từng đoàn xe ra tiền tuyến. Đồng Lộc từ đó không chỉ là một địa danh, mà là nỗi đau lặng lẽ, là khúc bi tráng về lòng yêu nước của những cô gái trẻ.

3. VÕ THỊ SÁU – ĐOÁ HOA TRẮNG GIỮA PHÁP TRƯỜNG

Võ Thị Sáu lớn lên trong khói lửa chiến tranh ở vùng Đất Đỏ. Từ nhỏ, chị đã sớm chứng kiến cảnh quê hương bị giặc giày xéo, người dân bị áp bức, đàn áp. Chính điều đó đã hun đúc trong chị lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí chiến đấu mạnh mẽ.

Dù còn rất trẻ, Võ Thị Sáu đã tham gia cách mạng, làm nhiều nhiệm vụ nguy hiểm. Chị gan dạ, nhanh nhẹn, không hề nao núng trước hiểm nguy. Trong một lần làm nhiệm vụ, chị bị địch bắt. Chúng tra tấn dã man, dùng mọi thủ đoạn để ép chị khai báo, nhưng Võ Thị Sáu vẫn im lặng, ánh mắt kiên cường không khuất phục.

Cuối cùng, kẻ thù kết án tử hình một cô gái mới mười chín tuổi. Ngày đưa ra pháp trường, Võ Thị Sáu vẫn giữ vẻ bình thản lạ thường. Chị không khóc, không run sợ. Chị từ chối bị bịt mắt, cất tiếng hát vang giữa đất trời Côn Đảo, như lời chào tạm biệt cuộc đời, như lời thách thức với kẻ thù.

Khi loạt đạn vang lên, Võ Thị Sáu ngã xuống. Đất trời như lặng đi. Một đóa hoa trắng đã rơi, nhưng hương thơm của nó thì còn mãi. Võ Thị Sáu trở thành biểu tượng bất tử cho tinh thần yêu nước, cho vẻ đẹp kiên cường của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh.

4. TÔ VĨNH DIỆN – THÂN NGÃ XUỐNG GIỮA NÚI RỪNG ĐIỆN BIÊN

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, việc kéo pháo vào trận địa là nhiệm vụ vô cùng gian khổ. Những con dốc cao, trơn trượt, đường núi quanh co khiến mỗi bước đi đều đối mặt với cái chết. Tô Vĩnh Diện là một trong những chiến sĩ pháo binh luôn xung phong đi đầu.

Đêm ấy, trời mưa, đường trơn như đổ mỡ. Khẩu pháo nặng hàng tấn đang được kéo lên dốc thì bất ngờ dây kéo đứt. Khẩu pháo lao nhanh xuống phía vực sâu. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, nếu pháo rơi, bao công sức và cả kế hoạch chiến đấu sẽ tan thành mây khói.

Không kịp suy nghĩ, Tô Vĩnh Diện lao mình vào bánh pháo, dùng chính thân thể mình để chèn lại. Khẩu pháo dừng lại, nhưng anh thì không còn đứng dậy được nữa. Giữa núi rừng lạnh giá, người chiến sĩ ấy đã hy sinh trong im lặng.

Đồng đội đứng lặng bên anh, đau đớn nhưng tự hào. Nhờ sự hy sinh của Tô Vĩnh Diện, khẩu pháo được giữ lại, trận địa được bảo toàn, góp phần làm nên chiến thắng lừng lẫy năm châu. Anh ra đi, nhưng tinh thần “lấy thân mình giữ pháo” mãi là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước và sự hy sinh vì Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn