Bài viết

ANH HÙNG PHAN HÀNH SƠN

Đà Nẵng31/12/2025Trường THPT Phan Châu Trinh (Trường THPT Phan Châu Trinh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đến hôm nay, khi bước chân lên những bậc đá cổ kính dẫn vào động Huyền Không thuộc Danh thắng Ngũ Hành Sơn, người ta vẫn không khỏi rùng mình khi nhìn thấy chiếc cổng gạch hơn 200 năm tuổi mang ba chữ Nôm “Thiên Phước Địa”. Công trình được xây dựng từ thời vua Minh Mạng ấy không chỉ là dấu tích kiến trúc, mà còn là chứng nhân lịch sử, nơi còn lưu giữ chi chít những vết đạn của thời chiến. Mỗi vết lõm, mỗi mảng gạch sứt mẻ như một lời kể không lời về những cuộc đọ súng khốc liệt giữa bộ đội ta và quân đội Mỹ – ngụy trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, trong đó có trận đánh oanh liệt gắn liền với tên tuổi Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phan Hành Sơn.

Phan Hành Sơn tên thật là Phan Hiệp, sinh năm 1947 tại thôn Bá Tùng, xã Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng – một vùng đất hiền hòa nhưng đầy đau thương trong chiến tranh. Từ nhỏ, ông theo cha và chú học nghề thợ mộc, rong ruổi dựng nhà khắp Quảng Nam – Đà Nẵng. Nhưng đằng sau những công việc tưởng chừng giản dị ấy là một ý chí mạnh mẽ: tham gia Đội Thiếu niên cứu quốc, lặng lẽ góp sức vào phong trào yêu nước.

Chứng kiến quê hương chìm trong khói lửa, tận mắt thấy tội ác của kẻ thù, ngọn lửa căm thù trong ông – cũng như bao thanh niên thời bấy giờ – bùng cháy dữ dội. Tháng 2/1965, khi Tiểu đoàn 1 bộ binh Quảng Đà (R20) thành lập và tuyển quân, chàng trai 18 tuổi Phan Hiệp đã quyết định xin phép cha gia nhập bộ đội. Khoảnh khắc ấy, cuộc đời ông rẽ sang một hướng khác – con đường của người lính.

Tháng 1/1967, Tiểu đoàn 1 phục kích một tiểu đoàn lính Mỹ tại Duy Xuyên. Trận đánh kéo dài từ sáng đến trưa, càng về cuối, tình thế càng nguy cấp: đạn cối 82 ly đã cạn, ba khẩu trung liên do Phan Hiệp phụ trách cũng gần hết đạn, trong khi quân Mỹ tiếp viện ồ ạt. Giữa lằn đạn dữ dội, Phan Hiệp đã bò ra thu hơn 400 viên đạn 7,62 ly từ chính những xác lính Mỹ để tiếp ứng cho đồng đội.

Hành động “lấy đạn Mỹ bắn Mỹ” ấy đã xoay chuyển cục diện. Quân ta liên tiếp áp đảo, giành chiến thắng vang dội, tiêu diệt hàng trăm lính Mỹ. Đó là chiến công đầu tiên ghi dấu bản lĩnh gan dạ của người chiến sĩ trẻ.

Tháng 8/1967, ông cải trang thành một người nông dân để thâm nhập cứ điểm địch ở Vĩnh Điện. Nhờ sự quan sát tỉ mỉ và táo bạo, ông cùng đồng đội tiêu diệt pháo thủ, phá hủy hai khẩu pháo 105 ly – góp phần giải phóng chi khu quân sự quan trọng này.

Mùa xuân 1968, Tiểu đoàn 1 nhận lệnh tiêu diệt căn cứ biệt kích Non Nước – một trong những cứ điểm mạnh nhất của địch tại Ngũ Hành Sơn. Đại đội 3 do Phan Hiệp làm Đại đội trưởng đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng: đánh vào sở chỉ huy.

Khi đơn vị tiếp cận hàng rào thép gai cuối cùng, địch phát hiện. Trong khoảnh khắc sinh tử, Phan Hiệp lao người nằm đè lên hàng rào thép gai, làm “tấm ván sống” cho đồng đội vượt qua. Ngay sau đó, anh bật lên, dẫn đầu đợt xung phong, dùng B40, lựu đạn và hỏa lực đánh phủ đầu sở chỉ huy địch, khiến chúng không kịp trở tay.

Ở hướng khác, quân ta khống chế sân bay Nước Mặn khiến máy bay địch không thể cất cánh. Khi Mỹ điều trực thăng chi viện, Phan Hiệp đã dùng súng bộ binh bắn rơi một chiếc trực thăng – chiến công hiếm có trong chiến trường ác liệt.

Kết quả trận đánh:

  • Diệt hơn 400/500 lính biệt kích tại căn cứ Non Nước

  • Phá 38 máy bay, 100 xe quân sự tại sân bay Nước Mặn

  • Chiến thắng vang dội này đã làm rung chuyển cả vùng Non Nước – Ngũ Hành Sơn, khiến cái tên Phan Hiệp được đặt lại thành Phan Hành Sơn để gắn với chiến công lịch sử.

    Trong chỉ 4 năm (1965–1969), Phan Hành Sơn đã lập chiến công dày đặc:

    • 28 lần được tuyên dương Dũng sĩ, trong đó:

    • 1 lần Dũng sĩ diệt máy bay

  • 7 lần Dũng sĩ diệt Mỹ

  • 20 lần Dũng sĩ Quyết thắng

  • Được trao:

    • Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất

  • 2 Huân chương Chiến công hạng Ba

  • Cùng hàng loạt bằng khen, giấy khen

  • Năm 1969, ông được tuyên dương Anh hùng LLVT Nhân dân.

    Hình tượng của ông được nhà thơ Xuân Diệu ca ngợi:

    “Hăm mốt tuổi căm hờn
    Diệt địch gấp hai mươi lần số tuổi
    Đánh trăm trận ba năm vào bộ đội
    Núi Ngũ Hành vang dội Phan Hành Sơn…”

    Nhà thơ Tố Hữu cũng viết đầy tự hào:

    “Ta tiến công
    Với sức mạnh thánh thần
    Của những Phan Hành Sơn đánh tung núi Ngũ Hành, diệt Mỹ”…

    Năm 1972, ông được cử ra Bắc học tập, sau đó trở về công tác ở Sư đoàn 2, Quân khu 5. Khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông lại xông pha chiến tuyến, chiến đấu chống quân xâm lược, rồi bị thương nặng do trúng mìn. Để giữ lại mạng sống, ông phải trải qua gần 20 ca phẫu thuật.

    Dù bị thương tật nặng, ông vẫn tiếp tục cống hiến cho địa phương, được nhân dân yêu mến, cho đến ngày ông về với cõi vĩnh hằng.

    Hôm nay, khi đứng dưới chiếc cổng “Thiên Phước Địa” còn lỗ chỗ vết đạn và nhìn xuống Đà Nẵng hiền hòa, khó ai tưởng tượng rằng nơi đây từng là chiến trường đẫm máu. Cổng đá, núi non, hang động – tất cả trở thành ký ức sống động về sự hy sinh của những con người đã nằm xuống hoặc trở về với đầy thương tích.

    Nhắc đến Anh hùng Phan Hành Sơn là nhắc đếnmột tuổi trẻ anh dũng,một ý chí thép, một biểu tượng bất khuất của vùng đất Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng. Kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, viết lại những dòng này không chỉ để tưởng nhớ một con người, mà còn để tri ân biết bao chiến sĩ, anh hùng, liệt sĩ đã chiến đấu, ngã xuống cho quê hương độc lập, cho non sông đất nước trường tồn.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn