ANH HÙNG PHI CÔNG NGUYỄN VĂN BA (1930 - 1996), DIỆT BIỆT KÍCH TRÊN KHÔNG TRUNG
Phi công Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930 tại làng Tân Thành Bình, quận Mỏ Cày (nay là xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre).
Sau Hiệp định Genève, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lớp phi công tiêm kích đầu tiên ở nước ngoài. Năm 1960, với kết quả học tập hạng ưu, ông được lệnh về nước tham gia đào tạo, huấn luyện phi công. Trong một chuyến bay dẫn đầu đoàn huấn luyện viên từ sân bay Cát Bi lên sân bay Gia Lâm chuẩn bị diễn tập cùng bộ binh, máy bay của ông đột nhiên hỏng động cơ ở độ cao 1.500 m. Ông đã bình tĩnh, nhanh chóng đưa chiếc máy bay tránh đâm xuống vùng dân cư, hạ cánh an toàn trên bãi cát ven sông Hồng, không gây thiệt hại nào cho dân.
Vào một buổi trưa đầu thu năm 1963, bỗng trên bầu trời phía Nam Hà Nội có tiếng máy bay vang rền. Rồi có chiếc phi cơ lạ hạ cánh xuống sân bay Bạch Mai. Đó là chiếc T-28 của Mỹ trang bị cho quân đội phái hữu Lào do một trung úy phi công phản chiến, lái máy bay sang Việt Nam xin tỵ nạn chính trị.
Tháng 4/1964, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân quyết định sửa chữa và đưa chiếc T-28 vào chiến đấu. Nguyễn Tường Long, một cán bộ kỹ thuật tài ba và Phạm Thanh Tâm, trợ thủ đắc lực đã "lăn lộn" với chiếc máy bay Mỹ, mò từng cái đinh ốc, vạch từng đường ống dẫn xăng trong một thời gian dài. Cuối cùng, chiếc máy bay đã nổ giòn giã trước sự chứng kiến của các cấp chỉ huy. Chiếc T-28 đã có chủ mới, mang số hiệu 963 để ghi nhớ tháng năm chiếc máy bay Mỹ chính thức "nhập vào sổ hộ tịch" của bộ đội không quân ta.
Lúc 23 giờ ngày 15/12/1965, chiếc 963 do hai phi công Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước điều khiển, nhẹ nhàng cất cánh rời khỏi đường băng sân bay Bạch Mai, vút lên không trung, đi ra hướng suối Rút, tỉnh Hòa Bình.
Tại sở chỉ huy không quân, Đại tá, Tư lệnh Phòng không -Không quân Phùng Thế Tài cầm ống nói, tiếp chuyện với Cục Tác chiến về việc máy bay địch chưa xuất hiện, các trạm quan sát chỉ mới báo một lần địch đã bay qua Vĩnh Linh.
- Có lẽ trạm Vĩnh Linh nghe lầm. - Một sĩ quan nêu nghi vấn.
Đại tá Chính ủy quân chủng Đặng Tính nói:
- Không đâu, ban đêm ở vùng núi, tiếng động vang rất xa và rõ, không thể nhầm lẫn được, kiên trì sẽ thành công.
Chiếc 963 của Nguyễn Văn Ba ngày càng bay ra xa Hà Nội, đã hai lần cho “vòng chờ" ở khu vực trên thị xã Hòa Bình nhưng địch vẫn chưa xuất hiện. Các trắc thủ điều khiển ăngten radar dẫn đường cho không quân quét ở độ cao cực thấp, sĩ quan dẫn đường căng mắt quan sát những chấm sáng li ti lẫn trong hàng vạn nhiều phản xạ ở màn hiện sóng.
Bỗng tiếng loa trên tường sở chỉ huy phát lên một giọng như thét:
- Trạm quan sát Con Cuông cấp báo, một chiếc máy bay vừa bay qua.
Sĩ quan quân báo không quân đưa chiếc que chỉ lên một điểm nhỏ nằm trên đường số 7 ở phía Tây tỉnh Nghệ An, so với thời gian dự đoán, địch đến chậm hơn gần 10 phút, có lẽ do gió ngược.
Đại tá Tư lệnh lấy bút chì khoanh địa danh Mai Châu ở phía Tây Quảng Bình, nói với tập thể chỉ huy:
- Đây là điểm chiếc máy bay sẽ đến thả bọn biệt kích, ở đó các cán bộ công an biên phòng đã chờ sẵn, ta cố gắng bắn rơi, làm chúng mất “cả chì lẫn chài".
Tập thể sở chỉ huy cố gắng tập trung quan sát hướng chiếc máy bay địch sẽ đến, hàng chục cặp mắt đều đổ dồn vào tấm bản đồ chiến đấu đặc biệt của không quân. Ở đó, tấm mê-ca dày đè lên trên là một cây thước đặc biệt quay tròn xung quanh một điểm (nơi đặt trạm radar). Chợt chiến sĩ đánh dấu đường bay giật mình, kéo mạnh cây thước và chấm lên đó một chấm xanh. Địch đã xuất hiện trong tầm phát hiện của radar.
- 212, hướng bay 190 độ, độ cao 2.000 mét.
Tập thể chỉ huy cho chiếc 963 của Ba thấp hơn địch 500 mét, hướng về chiếc máy bay biệt kích và cố tạo cho Ba luôn nhìn về hướng có ánh trăng để dễ thấy địch.
Chiếc máy bay Mỹ vẫn lặng lẽ bay theo kế hoạch. Chúng không thể tưởng tượng nổi có không quân ta trên bầu trời...
Tổ kỹ thuật hỏi Ba:
- 212, tầm nhìn thế nào?
Ba trả lời:
- Tầm nhìn rất tốt, đề nghị cho lên 3.000 mét, từ trên nhìn xuống nền mây, có thể thấy xa hơn.
- Đồng ý.
Thế là 963 được bay ra xa chiếc máy bay biệt kích và cố tạo cho Ba nhìn xuôi theo ánh trăng.
Chiếc máy bay biệt kích vẫn chậm chạp thẳng tiến, chúng sắp đến điểm thả dù. Tập thể chỉ huy cho hướng bay đón đầu và thông báo chính xác vị trí địch.
Tiếng của viên phi công người Bến Tre cất lên rành mạch: - Thăng Long, 212 báo cáo đã thấy địch, xin phép công kích.
Tập thể Sở Chỉ huy phấn khởi trả lời: - Kiên quyết công kích, 212!
Bây giờ, Ba và Phước đã nhìn rất rõ chiếc C-123, loại máy bay vận tải quân sự của Mỹ. Nó vẫn lầm lũi bay về hướng dự định, không hề hay biết cái chết đang đến với nó.
Từ trên cao, đầu chiếc 963 đã chúi xuống một góc 30 độ, Ba đưa chữ thập lên máy ngắm vào đúng động cơ và buồng lái của chiếc C-123. Ba nghiến răng bóp mạnh cò bắn một loạt dài, vệt đạn lửa bay ra chớp chớp, kéo dài cắm vào đầu và cánh chiếc máy bay biệt kích. Nó nghiêng một góc lớn, lật ngửa, rồi chúi xuống dưới mây. Ba bóp ống nói báo cáo:
- Thăng Long, 212 bắn trúng, mục tiêu đã bị diệt.
Tất cả sĩ quan và chiến sĩ trong Sở Chỉ huy không quân vô cùng xúc động, hả hê...
Trận không kích thắng lợi này đã làm thất bại âm mưu thâm nhập, khiến địch phải hủy bỏ việc thả biệt kích bằng máy bay vào miền Bắc. Năm đó, ngành không quân vui đón mùa Xuân Ất Tỵ thật đẹp, với hoa đào đỏ rực.
Đây là trận không chiến đầu tiên trên bầu trời miền Bắc của Không quân nhân dân Việt Nam. Bằng chiếc T-28 cũ kỹ, thực hiện chiến thuật “gậy ông đập lưng ông", ta đã hạ chiếc C-123 chở bọn biệt kích ngày 15/12/1965. Chiến công "dùng máy bay địch diệt địch" này đã góp phần đánh bại âm mưu của Mỹ - ngụy tung gián điệp biệt kích ra phá hoại miền Bắc.
Sau đó, Nguyễn Văn Ba đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau và nhiệm vụ nào ông cũng đều hoàn thành xuất sắc. Tháng 3/1973, ông làm Trưởng đoàn tiếp nhận sân bay Lộc Ninh - Thiện Ngôn. Ông đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyến ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3/1975, ông tiếp nhận sân bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1976, ông làm Giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978 - 1979, ông làm Giám đốc Xưởng A75. Năm 1990, ông chuyển sang giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường Hàng không thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Năm 1994, ông nghỉ hưu với quân hàm đại tá.
Tháng 12/1995, Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất ngày 15/9/1996, an táng tại thành phố Hồ Chí Minh.



