Anh hùng, phi công Vũ Xuân Thiều: Đại bàng phát sáng trong đêm
Vũ Xuân Thiều là phi công MiG-21 dũng cảm, được đào tạo ở Liên Xô, tham gia chiến đấu ban đêm trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, tiêu diệt B-52 trước Hà Nội. Anh hy sinh khi mới 27 tuổi, để lại hình ảnh quả cảm và tấm gương chiến đấu quả cảm. Ngoài sự nghiệp hiển hách, Thiều còn được biết đến với tình yêu sâu sắc: con đại bàng bằng đá cẩm thạch, món quà từ bạn gái du học ở Liên Xô, tượng trưng cho đôi cánh rộng và bền vững như phi công lái ban đêm. Người thân và đồng đội vẫn gìn giữ ký ức v
QĐND-Con đại bàng bằng đá cẩm thạch là món quà của cô bạn gái tặng phi công Vũ Xuân Thiều. Món quà thật ý nhị: Vũ Xuân Thiều là phi công lái máy bay tiêm kích ban đêm, giống như đại bàng luôn sải cánh rộng và vững chắc...
Đại tá Vũ Xuân Thăng giới thiệu những kỷ vật của Anh hùng, phi công Vũ Xuân Thiều. Ảnh: VĨNH THĂNG.Chợt nhắc đến người con gái đó, ông Thăng ngậm ngùi: “Thật tiếc là chú Thiều hy sinh nên mối tình với cô ấy dang dở. Dù đến nay, cô ấy cũng đã yên bề gia thất nhưng vẫn đi lại với gia đình tôi như con cái trong nhà. Mẹ tôi khi còn sống vẫn bảo, mẹ mất Thiều nhưng lại có thêm hai người con. Âu cũng là điều an ủi”.Cho đến giờ, người thân và bạn bè của Vũ Xuân Thiều vẫn còn kể về tình yêu đó. Nguyễn Xuân Phong, phi công cùng đoàn bay năm đầu tiên (1969) trên loại máy bay Iak-18a với Vũ Xuân Thiều, kể: “Thiều tính tình thẳng thắn, ít nói nhưng nói rất chắc chắn. Thiều rất hay nhận được thư với phong bì màu xanh, trên đó ghi dòng chữ: Em gửi cho anh/Chiếc phong bì màu xanh/Màu ước mơ hy vọng… Không biết có phải điềm gở hay không, trong những ngày của “12 ngày đêm”, Thiều lại gửi tôi một chiếc hòm, gồm có thư từ và ảnh nhờ mang về Hà Nội chuyển cho gia đình”. Không cắt nghĩa được chuyện đó, nhưng chắc chắn giữa Thiều và bạn gái đã có một quy ước chỉ viết và gửi thư cho nhau trên chất liệu giấy màu xanh: Màu của hòa bình và hy vọng. Bà Nguyễn Thục Phương, chị dâu của Vũ Xuân Thiều nhớ rất rõ: “Cùng đơn vị với chú Thiều có anh Tuân-thợ máy, nhà cũng ở phố Đặng Dung. Mỗi lần anh Tuân về tranh thủ, chú Thiều đều nhờ mua giúp phong bì và giấy pơ-luya màu xanh. Chú ấy tế nhị và lãng mạn lắm. Không nói nhiều nhưng hành động thì rất cụ thể”.Chuyện tình yêu của Vũ Xuân Thiều khiến người ta biết và nhớ đến mức, dù anh mất đã khá lâu mà hằng năm đến ngày giỗ của anh hay có dịp đến thăm nhà, bạn bè thắp hương và viếng mộ anh đều mua hoa màu vàng. Bởi một lẽ rất đơn giản, Thiều suốt đời yêu hoa vàng vì nó gắn liền với người con gái anh yêu thương.Và những hồi ức về một người anh hùngLà con trai thứ 7 trong gia đình có 10 người con, Thiều là người ít nói nhưng quyết đoán và mạnh mẽ hơn cả. Đại tá Vũ Xuân Thăng kể: “Năm Thiều lên hai tuổi bị một mụn nhọt rất to ở sau lưng, dân gian vẫn gọi là “hậu bối” - vị trí rất nguy hiểm -hành hạ. Thiều sốt liên tục mấy ngày liền, tôi phải bế em ấp vào người cho khỏi đau nhưng tuyệt nhiên em không kêu khóc”. Sau này, khi đang học năm thứ 3 khoa Vô tuyến điện-Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Vũ Xuân Thiều trốn gia đình đi khám nghĩa vụ quân sự. Đến khi trúng tuyển đợt đào tạo phi công do Quân chủng Phòng không-Không quân tuyển, anh mới báo tin cho gia đình biết. Nhắc lại chuyện này, cô em gái Vũ Thị Kim Bình, người có nhiều thời gian gắn bó với anh trai nhất cho biết: “Trong trí nhớ của tôi, anh Thiều chỉ thích chơi đá bóng và mô hình máy bay. Tôi đoán anh mơ ước trở thành phi công từ những ngày đó. Chẳng thế mà năm lớp 10, khi khám tuyển, anh bị trượt ở vòng quay thử. Sau lần ấy, sáng sáng anh đều lên sân thượng tập thể dục. Anh nói với tôi, anh phải tập quay đầu để không bị chóng mặt trong lần khám tuyển sau. Anh nhất định thực hiện ước mơ của mình”.
Vũ Xuân Thiều (hàng đứng, thứ hai từ bên trái) chụp ảnh cùng gia đình. Ảnh chụp lại.Ước mơ trở thành hiện thực khi Vũ Xuân Thiều được cử sang Liên Xô đào tạo phi công. Về nước, Thiều tham gia chiến đấu ngay. Đại tá Vũ Xuân Thăng hồi đó cũng làm việc tại Tổng cục Chính trị nên mặc dù hai anh em không gặp nhau nhưng mọi diễn biến chiến sự và tình hình Thiều ở đơn vị, ông đều nắm được cả. Nhất là đợt cao điểm của chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972. Trực chiến, báo động chuyển cấp, xuất kích chiến đấu là những việc lặp đi lặp lại liên tục. Anh em chỉ thi thoảng nói chuyện với nhau qua đường dây nội bộ vài câu. Các phi công tranh thủ những lúc rảnh rỗi xen kẽ giữa các lần báo động viết nhật ký, thư từ gửi về cho người thân. Vũ Xuân Thiều cũng có một vài bức thư gửi về cho gia đình. Trong thư anh kể chuyện chiến đấu, chuyện sinh hoạt ở đại đội, dặn dò và động viên bố mẹ nếu có ngày “anh không về”. Lá thư ngày 21-12-1972, Vũ Xuân Thiều đang viết dở thì có lệnh vào cấp chiến đấu. Thư có đoạn: “Bố mẹ thân yêu! Qua hai đêm nặng nề, cái nặng nề vì phải đứng nhìn lửa đạn hết đợt này đến đợt khác rải xuống Hà Nội, con thấy uất ức lắm vì chưa làm được gì. Con nghĩ bây giờ không phải là lúc lo lắng cho ngôi nhà của mình, cũng không có quyền nghĩ đến bản thân…”. Lá thư cuối cùng dang dở ấy đến tay người nhận khi Vũ Xuân Thiều đã xếp lại đôi cánh bay. Ông Thăng tâm sự rằng: “Bố mẹ tôi chắc cũng biết được con trai mình đang thực hiện một nhiệm vụ nguy hiểm. Họ hiểu sự khốc liệt của chiến tranh. Nên mỗi lần nhận được thư em, bố mẹ tôi đều không nói gì…”.Thay cho lời kết, xin mượn lời những đồng đội đã từng sát cánh cùng Vũ Xuân Thiều để nhắc nhớ về anh: “Đấy là một con người trí thức, dáng dấp rất “trai Hà Nội”, sống hòa đồng, hiền hậu, thông minh. Một con người sống bằng nội tâm. Tư cách thì vừa như thanh niên thành phố lại như thanh niên huyện” (Hà Quang Hưng, đồng đội cùng đoàn bay MiG-21 khóa 3); “Ngược lại với vẻ bề ngoài thư sinh thì tính cách của Thiều lại là người có bản lĩnh, khá lì. Trong khi thực hiện các bài bay huấn luyện xạ kích, Thiều thường xử lý khá táo bạo, quyết liệt, kết quả luôn đạt điểm tối ưu” (Trần Ngọc Nhuận, người cùng học ở Trường Đại học Bách khoa, cùng nhập ngũ và sang Nga huấn luyện bay); “Thiều là phi công dũng cảm, kiên nghị, rất hăng hái, muốn đánh trận” (Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đăng Kính, một trong những cán bộ đầu tiên của Đại đội bay đêm).Bắc Việt Nam có một trong các hệ thống phòng không có hiệu quả nhất trong lịch sử. Hệ thống này gồm máy bay tiêm kích MiG-17 và sau này thêm MiG-21, các tên lửa đất đối không SAM 2 cũng như hàng nghìn các vũ khí khác từ pháo 12,7mm đến pháo 100mm. Pháo cao xạ buộc máy bay tiến công phải bay cao, dễ bị SAM và MiG đánh hơn. Ngược lại, nếu bay thấp để tránh SAM và MiG thì máy bay dễ bị sát thương bởi hỏa lực pháo phòng không. Các kíp bay chiến đấu Mỹ vào miền Bắc Việt Nam có cảm giác như lao vào một bức tường thép (Đại tá H.G. Xơm-mơ (H.G.Summers), trong “Anmanac về chiến tranh Việt Nam.N.Y., Facts on File, 1985, Tr 72).


