Anh hùng Quân đội Sơn Ton – Nỗi khiếp sợ mang tên Mìn gạt Sơn Ton
ở đầu câu chuyện thời hoa lửa bằng việc kể về hành trình của ông trong việc tiêu diệt nhiều tên lính địch, với sự trầm tĩnh và mưu mẹo đặc trưng của người con phum sóc, ông lặng lẽ gài từng quả lựu đạn và dẫn dụ quân địch vào rồi tiêu diệt chúng cùng lúc. Những chiến thắng từ sự thông minh của ông khiến đồng bào vô cùng phấn khởi, từ đó làm cho phong trào du kích xã trở nên vô cùng mạnh mẽ. Ông đã tổ chức được 15 trung đội dân quân và 15 tiểu đội du kích thường xuyên tập luyện sẵn sàng đánh địch.
Bước sang năm 1953, phạm vi hoạt động của Sơn Ton được mở rộng khi ông được điều động về đội du kích tập trung huyện Long Phú. Nhiệm vụ xây dựng cơ sở và phát triển lực lượng được ông hoàn thành xuất sắc. Chỉ trong hơn 7 tháng, đơn vị dưới sự dẫn dắt của ông đã lập nên những con số biết nói: tiêu diệt 67 địch, bắt sống 100 tù binh, và quan trọng hơn là giác ngộ được nhiều binh lính địch cùng thanh niên phum sóc gia nhập kháng chiến. Thành tích này đã mang về cho ông danh hiệu Chiến sĩ thi đua Phân liên khu miền Tây Nam Bộ, Huân chương Chiến công hạng Nhì và Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc.
Năm 1954, trong niềm vinh dự chung của miền Nam thành đồng, ông là một trong 12 gương mặt tiêu biểu được chọn tập kết ra Bắc. Tại đây, ông tham gia huấn luyện duyệt binh ở Sơn Tây, chuẩn bị cho lễ đón Trung ương Đảng về tiếp quản Thủ đô.
Năm 1955 trở thành năm bản lề khi ông chính thức được kết nạp Đảng và giữ chức Tiểu đội trưởng đặc công thuộc Trung đoàn 3. Đặc biệt, tháng 8/1955, những cống hiến đặc biệt xuất sắc của người con ưu tú dân tộc Khmer đã được Tổ quốc ghi công bằng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Quân đội (Anh hùng LLVTND) do Chủ tịch nước trao tặng.
Trong chuỗi ngày tập kết ra Bắc, kỷ niệm in đậm nhất trong tâm trí người con Khmer ấy chính là khoảnh khắc tại Đại hội Thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1955. Tại buổi thảo luận tổ hôm ấy, Sơn Ton vinh dự được ngồi cạnh Anh hùng Núp – người con ưu tú của đại ngàn Tây Nguyên (dân tộc Bana). Hai người anh hùng, hai màu da, hai tiếng nói, nhưng chung một nhịp đập hướng về vị Cha già.
Sơn Ton nhớ như in giây phút Bác bước vào. Câu đầu tiên Bác hỏi không phải là chuyện súng đạn, mà là một lời thăm hỏi ân tình: "Trong đợt tuyên dương Anh hùng vừa rồi có một cháu là người Khmer Nam Bộ, cháu đâu rồi?". Nghe tiếng Bác gọi, Sơn Ton đứng bật dậy, nghiêm trang mà giọng nghẹn ngào vì xúc động: "Dạ thưa Bác, chính cháu là người dân tộc Khmer ở Nam Bộ ạ". Bác nhìn anh, ánh mắt hiền từ như người cha đón con đi xa về. Bác hỏi han tỉ mỉ từ chuyện ăn, chuyện mặc, cho đến nếp sinh hoạt, học tập. Bác còn quay sang các anh em dân tộc thiểu số khác, ân cần hỏi xem mọi người có hiểu hết ngôn ngữ trong các văn bản thảo luận hay không. Sự quan tâm giản dị mà sâu sắc ấy đã thắp lên trong lòng Sơn Ton một niềm tin mãnh liệt: "Qua Đại hội này, tôi càng tin tưởng sắt đá rằng: với sự đồng lòng của toàn dân, Mặt trận Tổ quốc sẽ hoàn thành sứ mệnh vẻ vang, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh".
Sau hai năm trui rèn tại Trường Lục quân, năm 1958, Sơn Ton mang quân hàm Thiếu úy về nhận nhiệm vụ tại Sư đoàn 338. Tại đây, ông chuyển sang một mặt trận thầm lặng nhưng tối quan trọng: huấn luyện và chuẩn bị những bộ đội đi B chi viện cho chiến trường miền Nam ruột thịt. Đất nước trọn niềm vui năm 1975, ông tiếp tục cống hiến trí tuệ cho Quân khu 9 ở vai trò Phó ban Chính sách Tỉnh đội Hậu Giang. Tuy nhiên, binh nghiệp của người anh hùng chưa dừng lại ở đó. Khi biên giới Tây Nam dậy sóng, ông lại khoác ba lô lên đường làm nghĩa vụ quốc tế, sát cánh cùng Đoàn 978 giúp nước bạn Campuchia hồi sinh từ đống tro tàn của họa diệt chủng Pol Pot. Năm 1983, sau khi hoàn thành mọi sứ mệnh vẻ vang, người con ưu tú của dân tộc Khmer nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Trở về đời thường tại Cần Thơ, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong ông vẫn sáng mãi. Với vai trò Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh, ông lại hăng hái bước vào trận chiến mới giữa thời bình: tận tình giúp đỡ đồng đội xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống, giữ trọn nghĩa tình đồng chí cho đến những ngày cuối đời.
Hạnh phúc riêng của người anh hùng Sơn Ton được vun đắp bên người bạn đời cùng chí hướng, bà Nguyễn Thị Kim Lê. Cũng là một người con miền Nam tập kết ra Bắc, bà đã nỗ lực trở thành bác sĩ (tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội năm 1963) để rồi sau ngày thống nhất, cả hai cùng nắm tay nhau trở về cống hiến cho quê hương. Thế nhưng, hạnh phúc ngắn chẳng tày gang. Năm 1990, khi đang giữ cương vị Trưởng khoa Sản của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang, bà đột ngột qua đi vì căn bệnh cao huyết áp, để lại cho ông nỗi đau khôn cùng và ba đứa con thơ dại. Biến đau thương thành hành động, người lính dạn dày trận mạc năm xưa nay lại kiên cường trong một hành trình mới: cảnh gà trống nuôi con. Giữa bộn bề khó khăn của thời bao cấp, ông vừa làm cha, vừa làm mẹ, chắt chiu từng chút một để nuôi dạy các con nên người. Trái ngọt cho những hy sinh thầm lặng ấy là ngày hôm nay, cả ba người con của ông đều đã trưởng thành, yên bề gia thất và có công việc ổn định, tiếp nối truyền thống đáng tự hào của gia đình.



