Anh hùng Sơn Ton, người con của dân tộc Khmer - câu chuyện số 2
Anh hùng Quân đội Sơn Ton sinh năm 1933 tại xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú (Trà Vinh) trong một gia đình nông dân nghèo. Thuở nhỏ, ông vừa đi làm thuê vừa hoạt động cách mạng tại xã An Thạnh Nhì, huyện Long Phú (nay là huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng).
Vinh dự nhất là trong dịp tham dự Đại hội Thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1955, ông được gặp Bác Hồ trong buổi thảo luận tổ, trong tổ còn có Anh hùng Núp là người dân tộc Bana quê ở Tây nguyên. Ông xúc động kể lại: "Khi nghe Bác hỏi, trong đợt tuyên dương Anh hùng vừa rồi có một cháu là người Khmer Nam Bộ, thì tôi đứng nghiêm và nói: "Dạ thưa Bác, chính cháu là người dân tộc Khmer ở Nam Bộ". Bác hỏi thăm từ cái ăn, cái mặc cho đến sinh hoạt học tập, rồi quay sang hỏi các anh em dân tộc thiểu số trong tổ có hiểu hết từ ngữ của những vấn đề đang thảo luận không… Qua Đại hội này tôi lại càng tin tưởng rằng với sự cố gắng của mọi người và toàn dân ủng hộ, Mặt trận Tổ quốc sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh".
Sau hai năm học tập tại Trường Lục quân (khóa 10), năm 1958, ông được điều động về Sư đoàn 338 đóng tại Xuân Mai (Hà Đông) với cấp bậc Thiếu úy, giữ chức Trung đội phó thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 3, có nhiệm vụ xây dựng lực lượng quân đội chính quy, rồi chuyển sang làm công tác huấn luyện bộ đội đi B phục vụ chiến trường miền Nam.
Đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, Anh hùng Sơn Ton được điều về Quân khu 9 phụ trách Phó ban Chính sách của Tỉnh đội Hậu Giang. Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông được phân công làm trợ lý chính sách cho Đoàn 978 của Quân khu 9 tình nguyện sang Campuchia giúp nước bạn chống lại chế độ diệt chủng Pol Pot.
Cuối năm 1980, ông trở về đơn vị cũ thuộc Tỉnh đội Hậu Giang, ba năm sau, ông về hưu với cấp bậc Trung tá. Tại nơi cư trú, có thời gian ông là Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh khu vực 3, phường An Hội, quận Ninh Kiều (Tp. Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ), nhiệt tình giúp đỡ các hội viên phát triển kinh tế gia đình ổn định cuộc sống.
Vợ ông cũng là một học sinh miền Nam tập kết ra Bắc. Năm 1963, bà Nguyễn Thị Kim Lê tốt nghiệp bác sĩ Trường Đại học Y Hà Nội, bà đã cùng ông trở về Nam công tác sau ngày thống nhất đất nước... Do căn bệnh cao huyết áp, bà đã qua đời vào năm 1990 khi đương chức Trưởng khoa Sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang. Lúc đó ba con còn nhỏ, cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn nhưng ông quyết tâm chăm lo nuôi dưỡng các con học hành nên người. Bây giờ, ba người con của ông đều trưởng thành, đã lập gia đình và có công việc làm ổn định



