Anh hùng Sơn Ton - Người con của dân tộc Khmer
Anh hùng Sơn Ton sinh năm 1933 tại Trà Vinh, là người con ưu tú của dân tộc Khmer. Từ nhỏ, ông đã tham gia hoạt động cách mạng và sớm thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm chống giặc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông xây dựng lực lượng du kích, lãnh đạo nhân dân chiến đấu kiên cường dù gặp nhiều khó khăn. Ông cùng đồng đội lập nhiều chiến công, tiêu diệt địch, phát triển phong trào kháng chiến trong vùng đồng bào Khmer. Với những thành tích xuất sắc, ông được tặng nhiều phần thưởng cao quý và danh hiệu Anh hùng Quân đội năm 1955. Tên tuổi Sơn Ton mãi là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí chiến đấu và tinh thần đoàn kết dân tộc.

Anh hùng Sơn Ton - Người con của dân tộc Khmer
Anh hùng Quân đội Sơn Ton sinh năm 1933 tại xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú (Trà Vinh) trong một gia đình nông dân nghèo. Thuở nhỏ, ông vừa đi làm thuê vừa hoạt động cách mạng tại xã An Thạnh Nhì, huyện Long Phú (nay là huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng).
Cách mạng tháng 8/1945 thành công, ông tham gia công tác canh gác, phá đường cản quân địch kéo đến phum sóc bắn phá, đốt nhà cửa. Vì lòng dũng cảm, yêu nước và căm thù giặc nên ông đã khai sinh tăng thêm ba tuổi để sớm được tham gia đội du kích. Nhiều cơ sở cách mạng và tổ đội du kích được ông xây dựng, phát triển thành phong trào chiến tranh du kích trong vùng đồng bào dân tộc Khmer.
Đầu năm 1952, địch thường xuyên đưa cấp tiểu đoàn vào xã càn quét, có máy bay bắn phá yểm trợ, đội du kích xã chỉ còn ông và một cán bộ nhưng vẫn kiên cường chiến đấu. Cuối năm đó, địch tiếp tục kéo đến càn quét, ông tổ chức gài lựu đạn rồi dụ chúng lọt vào tiêu diệt nhiều tên, đồng bào vô cùng phấn khởi nên phong trào du kích xã mạnh lên. Từ đó, ông tổ chức được 15 trung đội dân quân và 15 tiểu đội du kích thường xuyên tập luyện sẵn sàng đánh địch.
Năm 1953, ông được cử lên đội du kích tập trung của huyện Long Phú để xây dựng cơ sở và phát triển lực lượng. Chỉ trong vòng hơn 7 tháng, đơn vị của ông đã tiêu diệt 67 tên địch và bắt sống 100 tên, vận động nhiều binh lính trở về với nhân dân, hàng chục thanh niên trong phum sóc tòng quân diệt giặc. Do có nhiều thành tích chiến đấu dũng cảm, ông được bầu là Chiến sĩ thi đua giết giặc lập công của Phân liên khu miền Tây Nam Bộ năm 1953, được tặng Huân chương Chiến công hạng nhì và Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc.
Năm 1954, ông được phân công theo đoàn 12 chiến sĩ thi đua của miền Nam tập kết ra Bắc. Ông được điều động lên Sơn Tây học tập đội hình duyệt binh để chuẩn bị đón Trung ương Đảng về Thủ đô Hà Nội. Năm 1955, ông là Tiểu đội trưởng đặc công thuộc Trung đoàn 3 bộ đội miền Tây Nam Bộ và vinh dự được kết nạp Đảng. Tháng 8/1955, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng Quân đội (nay là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân) vì đã có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp.


