ANH HÙNG THỦ KHOA HUÂN
Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam, biết bao người con ưu tú đã hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp bảo vệ non sông, đất nước. Họ là những ngọn lửa bất diệt, thắp sáng truyền thống yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc. Một trong những anh hùng tiêu biểu ấy chính là Thủ Khoa Huân – người trí thức yêu nước, vị lãnh tụ nghĩa quân kiên trung đã dành trọn cuộc đời để chống thực dân Pháp xâm lược. Tên tuổi của ông mãi mãi được khắc ghi như biểu tượng của tinh thần bất khuất, lòng trung quân ái quốc và ý chí không khuất phục trước cường quyền.
Cách đây 150 năm, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân đã anh dũng, kiên cường cùng nghĩa binh chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược trong những năm giữa thế kỷ XIX và tuẫn tiết một cách đầy khí phách. Ông là người con ưu tú của quê hương Tiền Giang, là Anh hùng sống mãi cùng dân tộc với câu ca dao nổi tiếng được nhân dân ca ngợi "Một lòng đền nợ nước non/Ngàn năm vẫn đỏ tim son anh hùng".
*"Ba lần đánh giặt giữ đất"
Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1830 ở làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay là xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang cũ- Đồng Tháp mới). Ngay từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, học giỏi; năm 1852, dưới triều vua Tự Đức, ông đỗ thủ khoa kỳ thi Hương tại Gia Định nên Nguyễn Hữu Huân thường được gọi là "Thủ khoa Huân".Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ, chứng kiến quê hương bị giày xéo, nhân dân lầm than, ông đã từ bỏ cuộc sống yên ổn để đứng lên lãnh đạo phong trào kháng chiến.
Tháng 02/1859, thực dân Pháp đem quân đánh hạ thành Gia Định. Lúc này, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân đang phụ trách việc học hành, thi cử ở Kiến Hưng, với chức Giáo thụ. Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, giữa năm 1859, Nguyễn Hữu Huân từ bỏ chức Giáo thụ, ông hợp lực với Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa dũng, liên kết với các nhà yêu nước đứng lên phất cờ khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân và Võ Duy Dương lãnh đạo đã thu hút được đông đảo nông dân và các tầng lớp nhân dân khác tham gia kể cả phú hào; và tầng lớp này là nguồn cung cấp tài chính, lương thực quan trọng cho nghĩa quân, như bá hộ Trần Văn Học - một người rất giàu có ở Bình Cách, cha vợ của Võ Duy Dương và là thông gia với Nguyễn Hữu Huân. Ngoài ra, cuộc khởi nghĩa của hai ông còn có sự phối hợp chiến đấu chặt chẽ với nhiều thủ lãnh nghĩa quân khác, như Trương Định ở Tân Hòa (Gò Công), Trần Xuân Hòa ở Mỹ Quý (Cai Lậy), Bùi Quang Diệu (Quản Là) ở Cần Giuộc (Long An),... đã đánh thắng nhiều trận, gây cho địch nhiều khó khăn.
Đầu năm 1862, bị giặc đánh úp, ông bị bắt giải về Sài Gòn; mặc cho giặc Pháp dùng mọi cách để mua chuộc, dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết từ chối, tìm cách trốn thoát và trở về kháng chiến. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, kiên quyết đánh giặc giữ đất, tháng 7/1862, ông đến căn cứ Tân Hòa (Gò Công) bàn việc thống nhất lực lượng nghĩa quân với Trương Định nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu chống giặc Pháp xâm lược. Tại đây, ông nhận chức Phó Đề đốc do vua Tự Đức ban cho.
Tháng 02/1863, sau khi căn cứ Tân Hòa thất thủ, ông và Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa quân, phất cờ khởi nghĩa lần thứ hai. Căn cứ chính được đặt tại thôn Bình Cách, tổng Thanh Quơn, huyện Kiến Hòa (nay thuộc xã Tân Bình Thạnh, huyện Chợ Gạo). Tổng hành dinh tọa lạc tại nhà của Đỗ Tường Kiên. Đó là một ngôi nhà cổ có tất cả 36 cửa kiên cố, chung quanh có ba lũy tre và hào rộng bao bọc. Ông còn nhận nhiệm mang tiên quyên góp của nhân dân sang các tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên mua vũ khí để trang bị cho nghĩa quân.
Trước sự lớn mạnh của nghĩa quân, giữa năm 1863, giặc Pháp huy động một lực lượng hùng hậu tấn công căn cứ Bình Cách. Nguyễn Hữu Huân đã chỉ huy nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng, khiến địch phải rất vất vả mới chiếm được căn cứ này. Để bảo toàn lực lượng, Nguyễn Hữu Huân cho rút quân lên vùng Thuộc Nhiêu, tiếp tục chiến đấu, lưu động đánh Pháp nhiều trận ở Cái Thia, Cái Bè, Cai Lậy, Rạch Gầm, Trung Lương, Tân Lý...
Cuối năm 1863, thực dân Pháp tung lực lượng tấn công Thuộc Nhiêu. Nghĩa quân phải rút vào Đồng Tháp Mười, xây dựng căn cứ mới. Theo sự phân công giữa ông với Võ Duy Dương; ông sang An Giang - nơi còn thuộc quyền kiểm soát của triều đình - để tuyển mộ nghĩa quân và vận động nhân dân, kể cả triều đình, ủng hộ, đóng góp tiền của, vũ khí, lương thực cho cuộc kháng chiến. Thế nhưng, do áp lực của thực dân Pháp, tháng 7/1864, quan Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận đã hèn nhát bắt ông giao nộp cho quân giặc. Một tháng sau, ông bị chính quyền thực dân kết án khổ sai chung thân, đày đi Cayenne (thuộc địa của Pháp ở Trung Mỹ).
Tháng 02/1869, ông được thả về nước và bị quản thúc tại nhà của Đỗ Hữu Phương ở Chợ Lớn. Chúng lại tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc ông nhưng không thành. Lúc này, những "cộng sự" của Nguyễn Hữu Huân - các thủ lĩnh nghĩa quân lừng lẫy: Trương Định, Võ Duy Dương... đều đã hy sinh, Thủ khoa Huân vẫn kiên trì, bền bỉ một lòng đánh giặc giữ đất, tìm cách liên lạc với những người yêu nước và mưu tính phát động một cuộc khởi nghĩa lần thứ ba.
Năm 1872, ông thoát về Mỹ Tho, Chợ Gạo; và cùng với Âu Dương Lân nổi lên khởi nghĩa. Từ đây, phong trào chống Pháp do ông đứng đầu lan tỏa mạnh mẽ khắp vùng Mỹ Tho, Chợ Gạo, Tân An (nay thuộc tỉnh Long An), Chợ Lớn (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh),... Thủ lĩnh ở nhiều nơi cũng tham gia phong trào, như Nguyễn Văn Chất ở Vĩnh Long, Lê Công Thành, Phan Văn Đồng, Lâm Lễ ở Cần Thơ,... Có thể nói, một hệ thống của lực lượng kháng chiến đã được xây dựng tại nhiều thôn xã, nhất là ở Mỹ Tho và Chợ Gạo.
Cuối năm 1874, thực dân Pháp huy động một lực lượng hùng hậu, từ nhiều hướng tấn công căn cứ Bình Cách. Nghĩa quân kháng cự vô cùng quyết liệt; nhưng do thế giặc quá mạnh, sau đó phải tan rã. Ông bị sa vào tay giặc lần thứ ba, giặc Pháp giam ông ở nhà ngục Mỹ Tho; hết tra tấn dã man lại giở trò mua chuộc; nhưng vẫn không làm lung lay khí tiết của một vị anh hùng yêu nước.
Tượng đài Thủ Khoa Huân ở Mỹ Tho-Đồng Tháp
Năm 1875, sau nhiều năm kiên cường chống giặc, Thủ Khoa Huân bị bắt lần cuối. Biết không thể khuất phục được ý chí của ông, thực dân Pháp đã kết án tử hình. Trước giờ hy sinh, ông vẫn giữ phong thái ung dung, bình thản của một bậc anh hùng. Ông để lại những vần thơ đầy khí phách, thể hiện tinh thần bất khuất và lòng trung nghĩa với quê hương, đất nước. Cái chết của ông không phải là sự kết thúc, mà là sự hóa thân thành biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước Việt Nam. Sự hy sinh ấy đã tiếp thêm sức mạnh, khơi dậy tinh thần đấu tranh cho các thế hệ tiếp nối.Hình tượng Thủ Khoa Huân không chỉ là hình ảnh của một nhà nho yêu nước mà còn là biểu tượng đẹp của người trí thức gắn bó với vận mệnh dân tộc. Ông có học vấn, có tài năng, có cơ hội hưởng cuộc sống đủ đầy nhưng sẵn sàng từ bỏ tất cả để đứng về phía nhân dân, chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Tinh thần “thà chết vinh còn hơn sống
nhục” của ông là bài học quý giá về lòng yêu nước, về trách nhiệm công dân và ý chí kiên cường trước khó khăn, thử thách.
Ngày nay, tên tuổi Thủ Khoa Huân được đặt cho nhiều con đường, trường học và công trình trên khắp đất nước. Đặc biệt, đối với người dân Tiền Giang, ông là niềm tự hào lớn lao của quê hương. Cuộc đời và sự nghiệp của ông nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng những hy sinh của cha ông, không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, nuôi dưỡng lý tưởng sống đẹp và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Dẫu thời gian có trôi qua, hình ảnh người anh hùng Thủ Khoa Huân vẫn luôn tỏa sáng trong trang sử vàng của dân tộc. Cuộc đời ông là bản anh hùng ca về lòng yêu nước, về ý chí bất khuất và tinh thần hy sinh vì nghĩa lớn. Noi gương Thủ Khoa Huân, mỗi người trẻ hôm nay cần sống có trách nhiệm, biết yêu quê hương, trân trọng độc lập, tự do và không ngừng cống hiến để xứng đáng với những thế hệ anh hùng đã ngã xuống vì Tổ quốc Việt Nam thân yêu.



