Bài viết

ANH HÙNG TÔ VĂN ĐỰC – "VUA MÌN GẠT" CỦ CHI VÀ KHÁT VỌNG GIỮ BÌNH YÊN CHO QUÊ HƯƠNG

An Giang03/07/2026Đoàn Phường Long Phú (Đoàn Phường Long Phú)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nơi "Đất thép thành đồng" Củ Chi, có những huyền thoại được viết nên từ lòng yêu nước nồng nàn và óc sáng tạo thiên tài của những người nông dân chân lấm tay bùn. Không qua trường lớp đào tạo bài bản, chỉ với hai bàn tay trắng, cái lò rèn thô sơ và đống sắt vụn chiến tranh, người con ưu tú của vùng đất lửa ấy đã chế tạo ra những vũ khí khắc tinh, làm kinh hoàng lực lượng tăng thiết giáp của quân đội viễn chinh Mỹ. Ông là Trung tá, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Tô Văn Đực — người được mệnh danh là "cỗ máy phá tăng" huyền thoại.

Anh hùng Tô Văn Đực (còn có tên gọi thân thương là Út Đực, bí danh Mười Đức) sinh năm 1942 tại ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức, quận Củ Chi, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh). Là con út trong một gia đình tá điền nghèo khó, sớm mồ côi mẹ, ông không có điều kiện học hành đến nơi đến chốn, chỉ vừa đủ biết đọc biết viết thì phải bỏ học để bôn ba làm thuê khắp các tỉnh Sông Bé, Đồng Nai với nghề hàn tôn và sửa chữa xe đạp để mưu sinh.

Năm 1962, khi phong trào Đồng Khởi bùng lên mạnh mẽ khắp quê hương Củ Chi, chứng kiến cảnh làng mạc bị cày xới, bom đạn dội xuống ngày đêm, chàng thanh niên 20 tuổi Tô Văn Đực quyết định trở về quê nhà, xin gia nhập đội du kích xã Nhuận Đức. Mong muốn của ông vô cùng giản dị: "Làm thế nào để giữ cho quê hương của mình được yên ổn?".

Nhận thấy năng lực khéo tay và hiểu biết về cơ khí của ông, tổ chức đã phân công ông phụ trách xưởng công binh xã đội Nhuận Đức — lúc bấy giờ thực chất chỉ là một căn lán nhỏ thô sơ dưới lòng địa đạo với vài dụng cụ rèn cơ bản.

Những năm đầu tham gia du kích, khó khăn lớn nhất của quân ta là thiếu vũ khí trầm trọng. Đối phương được trang bị tận răng với súng đạn tối tân, trong khi du kích của ta nhiều đơn vị phải chiến đấu bằng dao, kiếm thô sơ. Không chịu khuất phục, từ những thanh ray xe lửa, mảnh bom bẻ đôi, ống thép từ xác xe ô tô cũ kỹ, chỉ với hai bàn tay không và chiếc lò rèn đỏ lửa, Tô Văn Đực tự mày mò, hình dung cấu tạo súng trong đầu để chế tạo.

Kết quả, mỗi tháng ông cùng đồng đội rèn thành công một khẩu súng trường bắn tầm xa cho du kích. Không dừng lại ở đó, ông cải tiến loại súng ngựa trời bắn tầm gần thành tầm xa, nâng cấp hộp tiếp đạn của súng ngắn K54 dành cho cán bộ nội đô từ 8 viên lên 14 viên. Phương châm của ông là: Thu gom được loại đạn nào của địch thì cải tiến súng để bắn được chính loại đạn đó.

Bước ngoặt lớn đến vào năm 1966, khi quân Mỹ đổ quân ồ ạt, mở các chiến dịch càn quét quy mô lớn (như trận càn Crimp) với sự yểm trợ tối đa của kỵ binh thiết giáp M113 hòng san phẳng vùng căn cứ địa đạo. Trước sức mạnh của "vỏ thép" quân thù, súng đạn thô sơ hoàn toàn bất lực, du kích lại chưa được chi viện súng chống tăng B40.

Sau khi mượn được hai quả mìn cán của đồng đội gài bẫy phá hỏng thành công xe tăng địch, Tô Văn Đực nhận ra: Mìn chính là chìa khóa để bẻ gãy các cuộc càn quét cơ giới.

Nhưng chế tạo mìn thì lấy đâu ra thuốc nổ? Ông đã đưa ra một quyết định liều lĩnh: Đi "săn" bom lép. Khi máy bay Mỹ thả xuống khu vực Bàu Trăn, Cây Quéo hàng loạt quả bom khổng lồ nặng tới 200 - 300kg nhưng không nổ, ông chủ động bảo đồng đội lùi ra xa: "Để mình tôi xuống coi". Bằng sự quả cảm và đôi tay khéo léo, ông đào sâu xuống lòng đất cả mét, dùng tay không cạy bỏ kíp nổ tử thần, mang về hàng tạ thuốc nổ TNT quý giá cho công xưởng.

Từ nguồn thuốc nổ này, kết hợp với việc nghiên cứu nguyên lý mẫu "mìn kiền" của Liên Xô, Tô Văn Đực đã phát minh ra "Mìn gạt Mười Đức" — một sáng chế mang tính biểu tượng của chiến tranh nhân dân. Vỏ mìn tận dụng từ những lon sữa bò, kíp nổ chế từ bom bi lép, còn bộ phận kích nổ là một cành cây nhỏ ngụy trang khéo léo đóng vai trò công tắc hành trình theo cơ chế "cứ gạt ngang là nổ". Loại mìn thô sơ này hoàn toàn vô hình trước các máy dò kim loại hiện đại của Mỹ, nhưng sức công phá lại dư sức xé toạc xích bọc thép của xe M113 hay xe tăng hạng nặng.

Chưa dừng lại, ông còn gài ngửa mìn gạt trên các ngọn cây. Khi xe tăng trúng mìn dưới đất dừng lại, trực thăng Mỹ sà xuống hạ cánh ứng cứu, sức gió từ cánh quạt trực thăng thổi mạnh làm gạt cành cây, kích nổ quả mìn trên cao khiến máy bay giặc cũng tan xác.

Nhờ sáng chế mìn gạt của Tô Văn Đực được nhân rộng khắp các vành đai diệt Mỹ, hàng nghìn xe tăng, xe bọc thép và phương tiện cơ giới của địch đã phải nằm lại trên mảnh đất Củ Chi, làm rúng động giới quân sự sừng sỏ ở Washington. Báo chí thế giới thời bấy giờ liên tục kinh ngạc đưa tin về một "anh nông dân" Việt Nam chế tạo vũ khí thô sơ đánh bại cỗ máy chiến tranh hiện đại.

Chính ông từng chia sẻ về cuộc gặp gỡ đầy thú vị sau hòa bình với một Trung tá cựu chiến binh Mỹ sang Việt Nam để tìm câu trả lời vì sao quân đội Mỹ thất bại: "Tôi bày hết cách tôi làm ra sao... Sau cùng ông ta nhìn tôi và nói một câu: Người Mỹ đã thua nông dân Việt Nam".

Với những cống hiến kiệt xuất và tư duy sáng tạo độc đáo, ngày 17/9/1967, khi mới bước sang tuổi 25, chàng trai trẻ Tô Văn Đực vinh dự được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, cùng với hàng loạt danh hiệu cao quý khác như Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt cơ giới.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục cống hiến ở lĩnh vực kỹ thuật quân sự, giữ chức Trung đoàn phó - Chủ nhiệm kỹ thuật Trung đoàn Gia Định trong chiến dịch Hồ Chí Minh, rồi Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu 7.

Năm 1992, ông nghỉ hưu với quân hàm Trung tá và trở về cuộc sống đời thường bình dị tại quê nhà Củ Chi bên người vợ là chiến sĩ công an nhân dân. Cho đến nay, cuộc đời gian khổ nhưng đầy vinh quang của ông đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho nghệ thuật, là nguyên mẫu tạo nên nhân vật Tư Đạp trong bộ phim điện ảnh bom tấn "Địa đạo - Mặt trời trong bóng tối" (2025).

Bước qua lứa tuổi xưa nay hiếm, nhìn lại những năm tháng bom cày đạn xới, người anh hùng đất thép năm nào vẫn mỉm cười thanh thản: "Bom đạn đã tránh tôi để tôi sống đến bây giờ... Bạn bè mình chết hết rồi, người chết đâu đòi hỏi được gì đâu, mình được hưởng công lao của họ, mình phải đóng góp cho ngày hôm nay, mình thấy rất hạnh phúc. Không có gì quý bằng cuộc sống hết".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn