Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng Tô Vĩnh Diện

Tô Vĩnh Diện (1924–1954) quê ở thôn Dược Khê, xã Nông Trường, huyện Triệu Sơn (trước thuộc huyện Nông Cống), tỉnh Thanh Hóa; là Khẩu đội trưởng pháo cao xạ 37mm thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367. Trong công tác kéo pháo ra vị trí tập kết chuẩn bị cho phương châm "đánh chắc, tiến chắc" tại chiến trường Điện Biên Phủ, khi dây tời chính bị đứt khiến khẩu pháo nặng hàng tấn lao xuống dốc đứng, ông đã bất chấp hiểm nguy lao thân mình vào bánh pháo để chèn giữ khẩu pháo không lăn xuống vực sâu. Ngày 7/5/1956, ông được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Cần Thơ27/10/2026Chi đoàn Trường Tiểu học Xuân Thới Thượng (Xã Bà Điểm)10 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh ra trong một gia đình bần nông nghèo khổ tại miền quê Triệu Sơn, Thanh Hóa, từ nhỏ Tô Vĩnh Diện đã sớm phải làm thuê cuốc mướn kiếm sống qua ngày. Giác ngộ lý tưởng cách mạng, năm 1949 ông tình nguyện tòng quân đánh giặc. Đến tháng 5 năm 1953, khi Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập Trung đoàn Pháo cao xạ 367 đầu tiên, người chiến sĩ kiên trung Tô Vĩnh Diện được điều động về đơn vị, miệt mài học tập khí tài và được bổ nhiệm làm Khẩu đội trưởng khẩu đội pháo cao xạ 37mm thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394.

Bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, sau những ngày đêm gian khổ xẻ núi mở đường, kéo pháo bằng sức người vào trận địa áp sát tập đoàn cứ điểm Mường Thanh, ngày 26 tháng 1 năm 1954, toàn mặt trận nhận mệnh lệnh lịch sử từ Đại tướng Võ Nguyên Giáp: chuyển từ phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc", kéo toàn bộ pháo ra vị trí tập kết an toàn để chuẩn bị công phu hơn. Quá trình kéo pháo vào đã vô cùng gian nan, việc kéo pháo ra ngược dốc dựng đứng, dưới làn bom đạn và pháo kích địch ngày đêm đánh phá, lại càng muôn phần gian khổ và nguy hiểm gấp bội.

Đêm ngày 1 tháng 2 năm 1954, đơn vị của Tô Vĩnh Diện tiếp tục nhiệm vụ đưa khẩu pháo cao xạ 37mm vượt qua đoạn dốc Pu Cô — một trong những con dốc quanh co hiểm trở nhất, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút thăm thẳm. Trời đêm tối đen như mực, sương mù dày đặc che khuất tầm nhìn, đường trơn trượt như đổ mỡ. Khi khẩu pháo đang từ từ lăn bánh xuống dốc dơ dác thì bất ngờ một loạt pháo sáng của địch soi rọi, kèm theo tiếng đứt phựt rợn người của sợi dây tời chính. Mất điểm giữ thăng bằng, cỗ pháo nặng hơn hai tấn lao vun vút xuống dốc hướng thẳng về miệng vực thẳm.

Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc đe dọa sinh mạng hàng chục pháo thủ và nguy cơ mất trắng cỗ pháo quý giá của quân đội, Tô Vĩnh Diện không hề do dự một giây. Giữa tiếng hô thất thanh và đà lao khủng khiếp của khối thép nghìn cân, anh đã quả cảm phi thân trườn lên phía trước, dùng chính thân mình chèn chặt vào vệt lăn của bánh pháo. Sự cản phá dũng mãnh và phi thường ấy đã ghìm chậm đà trôi của cỗ pháo trong khoảnh khắc vàng ngọc, tạo điều kiện cho đồng đội phía sau kịp thời lao tới giật chèn gài chặt, giữ khẩu pháo đứng yên ngay bên mép bờ vực sâu.

Khi đồng đội nghẹn ngào nâng bổng Tô Vĩnh Diện lên khỏi bánh xe thép, toàn thân anh đã dập nát, máu tuôn xối xả nhưng đôi mắt người chỉ huy trẻ tuổi vẫn sáng ngời. Thều thào trong vòng tay ngấn lệ của anh em đơn vị, lời nói trăng trối cuối cùng của anh trước khi trút hơi thở vĩnh quyết chỉ vỏn vẹn một câu hỏi đau đáu: "Pháo có việc gì không các đồng chí?". Sự hy sinh vô bờ bến và hành động quên mình của Tô Vĩnh Diện đã trở thành bản anh hùng ca bất tử, thổi bùng ý chí quật khởi cho toàn mặt trận xốc tới, cùng hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ đưa những nòng pháo Điện Biên vào vị trí chiến đấu, dội bão lửa chôn vùi tập đoàn cứ điểm của quân xâm lược.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn