Anh hùng Lực lượng vũ trang

Tô Vĩnh Diện – Người lấy thân mình cứu pháo

Trên con đường kéo pháo giữa núi rừng Điện Biên, một người lính đã chọn đứng lại trước khẩu pháo đang lao về phía vực sâu.

Thanh Hóa13/08/2026Xã Ngọc Đường (Đoàn xã Ngọc Đường)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 5-1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ chuẩn bị cho đánh lớn, Tô Vĩnh Diện được điều làm Tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ... Pháo cao xạ lúc này là loại vũ khí hiện đại, có lá chắn phía trước, tầm bắn tối đa 6.700m, tầm bắn hiệu quả 2.500 đến 3.000m. Khẩu đội có bảy pháo thủ: Số 1 quay hướng, số 2 quay tầm và đạp cò, số 3 cự ly, số 4 hướng đường bay, góc bổ nhào và tốc độ, số 5 nạp đạn, số 6 tiếp đạn, số 7 dự bị và lo đạn.

Đông Xuân 1953 - 1954, tin tức quân sự từ khắp nơi dội về làm cho các chiến sĩ pháo cao xạ vô cùng sốt ruột. Sau bao nhiêu tháng trời học tập, họ chờ được ra trận đọ sức với không quân địch. Những ngày chờ đợi diễn ra căng thẳng, có vũ khí pháo cao xạ trong tay mà cứ phải nhìn lũ giặc trời hoành hành trên bầu trời, trong lòng ai nấy không yên.

Giữa lúc ấy Tô Vĩnh Diện lại bị ốm nặng, phải nằm điều trị ở quân y viện. Khi đồng chí Tô Vĩnh Diện ra viện trở về thì đơn vị đang gấp rút chuẩn bị lên đường đi Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bộ đội hành quân lên Điện Biên Phủ. Chặng đường kéo pháo vào trận địa vô cùng gian khổ bắt đầu. Pháo phải tháo khỏi xe và thay bằng sức người để kéo. Hàng trăm người thay nhau kéo những cỗ pháo nặng hàng tấn vượt qua mỗi ngày vài cây số đường rừng núi cheo leo, khúc khuỷu. Sau hơn một tuần kéo pháo vào, vượt qua dãy Pa Sông vào chiếm lĩnh ở khu vực bản Tấu, phía Bắc cứ điểm Độc Lập. Vào đến nơi, tưởng nổ súng ngay thì đột nhiên có lệnh kéo pháo ra. Cán bộ, chiến sĩ ngơ ngác, không hiểu vì sao. Tô Vĩnh Diện cũng không khỏi hoang mang. Thế này nghĩa là thế nào? Kéo pháo vào rồi lại kéo pháo ra? Chi bộ Đảng họp bất thường, lãnh đạo, cán bộ, đảng viên, đoàn viên ổn định tư tưởng, tin tưởng vào cấp trên, vào Bộ Tổng tư lệnh. 

Quân địch không ngờ rằng quân đội ta có những khẩu pháo lớn dường ấy mà lại bí mật vượt qua được hàng trăm cây số đường rừng, lên dốc, xuống đèo trên những con đường mà ngay đi bộ người ta cũng phải lần mò từng bước một. Quân địch lại không ngờ được rằng hàng tấn sắt thép kia đã được vận chuyển không do một thứ máy móc nào khác ngoài sức lực con người - những người chiến sĩ pháo cao xạ anh hùng với sức lao động phi thường… 

Kéo pháo ra gian truân, ác liệt bội phần. Hàng trăm cánh tay bám chặt những sợi dây tời kéo khẩu pháo lặc lè lên dốc, rồi khi xuống dốc thì hàng trăm đôi bàn chân phải dậm thật mạnh tưởng như lún sâu xuống mặt đất, hàng trăm bàn tay ghì chặt những sợi dây buộc pháo, thả cho nó xuống từ từ, mà hai bên họ là vách núi dựng đứng, là vực sâu. Nguy hiểm hơn cả là chiến sĩ đi bên pháo để lao những hòn chèn, giữ cho pháo khỏi tụt và dũng cảm nhất có lẽ là chiến sĩ cầm càng pháo lái cho pháo đi đúng đường. Chỉ sẩy chân, sẩy tay là bị hất xuống vực, là bị bánh pháo đè nát người. Khẩu pháo cứ lầm lũi, lên dốc, xuống đèo gập ghềnh trong đêm tối và còn phải chịu những trận pháo kích của địch. 

Con đường kéo pháo này mới được công binh phá rừng, chặt cây làm gấp trong một thời gian ngắn chuẩn bị cho chiến dịch nên còn rất mấp mô, gồ ghề. Chỉ cần bánh pháo chồm qua một hòn đá hay một gốc cây, pháo quật càng sang bên phải hay sang bên trái thì cũng đủ rụng rời chân tay ra rồi. 

Đêm ấy, đơn vị của Tô Vĩnh Diện đưa pháo vượt Dốc Ba Tời – một trong những đoạn đường hiểm trở nhất trên tuyến kéo pháo. Con dốc có ba bậc dựng đứng, phía dưới là vực sâu, đường lại hẹp và quanh co. Để đưa được những khẩu pháo nặng hàng tấn xuống dốc, bộ đội phải sử dụng hệ thống dây tời, vừa giữ, vừa điều khiển từng chút một.

Tô Vĩnh Diện cùng đồng chí Tri đảm nhiệm việc lái càng pháo. Trước khi xuống dốc, anh đã cùng cán bộ đơn vị đi nghiên cứu tuyến đường đến tận cầu Gỗ nên chủ động nhận phần việc khó khăn này. Khẩu pháo bắt đầu được đưa xuống từng bậc dốc. Hàng chục chiến sĩ cùng ghìm những sợi dây lớn, phối hợp theo hiệu lệnh để giữ cho pháo đi đúng hướng. Trong lúc đó, pháo binh địch từ phía Mường Thanh liên tục bắn vào khu vực. Đất đá tung lên quanh con đường nhưng những người lính vẫn bám chắc vị trí, quyết tâm đưa pháo xuống núi an toàn.

Khi khẩu pháo đang xuống bậc dốc cuối cùng, một mảnh đạn pháo địch cắt đứt một sợi dây tời. Khối thép nặng hàng tấn lập tức lao nhanh xuống dốc. Các chiến sĩ cố ghìm những sợi dây còn lại, dùng phanh và liên tiếp đưa những hòn chèn vào bánh pháo nhưng vẫn không thể ngăn được sức lao ngày càng mạnh. Nhiều người bị kéo ngã, đồng chí Tri bị hất vào vách núi. Phía trước, con đường sắp đến một khúc vòng, bên dưới là vực sâu. Tô Vĩnh Diện vẫn giữ càng pháo.

Anh dồn sức lái càng về phía vách núi, cố đưa khẩu pháo tựa vào sườn đá để dừng lại. Có lúc pháo đã khựng lại, nhưng rồi sức nặng của nó tiếp tục kéo cả khối thép lao xuống. Trong khoảnh khắc nguy cấp ấy, khi mọi biện pháp để ghìm pháo đều không còn hiệu quả, anh buông tay lái, đạp mạnh hai chân, cả thân mình Diện bật như thỏi cao su lao vào trước vành bánh pháo. Khẩu pháo chồm lên rồi cuốn anh vào gầm chiếc đế kích đằng trước đè xuống chiếc mũ sắt anh đang đội. Pháo dừng hẳn, mọi người chạy đến chèn cứng bánh, chặt gốc cây, kéo pháo lùi lại đưa Tô Vĩnh Diện ra ngoài. Vài phút sau tim anh ngừng đập. 

Còn người chiến sĩ đã cùng đồng đội vượt bao dốc núi để đưa nó đến Điện Biên Phủ thì mãi mãi nằm lại trên con đường kéo pháo.

Sau đêm Tô Vĩnh Diện hy sinh để bảo vệ khẩu pháo, toàn Đại đội 827 đã nghiêm trang thề trước mộ người liệt sĩ anh hùng: "Noi gương đồng chí, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, tiêu diệt hết máy bay địch".

Tấm gương hy sinh cứu pháo của Tô Vĩnh Diện được toàn mặt trận học tập noi theo đưa pháo ra an toàn. Ngay tại mặt trận, Tô Vĩnh Diện được truy tặng Huân chương chiến công hạng Nhất. Ca ngợi tấm gương chói sáng đã anh dũng hy sinh, trong bài thơ "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên", nhà thơ Tố Hữu đã viết: 

“Những đồng chí chèn lưng cứu pháo

Nát thân, nhắm mắt, còn ôm”

Ngày 7-5-1956, đồng chí Tô Vĩnh Diện được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và trở thành người anh hùng Pháo cao xạ đầu tiên của quân đội ta ngã xuống trên mặt trận Điện Biên Phủ. Hiện nay, hài cốt của đồng chí được Đảng và Nhà nước quy tập và an táng tại nghĩa trang Đồi A1, thành phố Điện Biên Phủ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn