ANH HÙNG TRẦN CÔNG AN
“Thang tre lựu đạn tung đồn bót/ Mở lối đặc công cách đánh hay/ Sân bay Biên Hòa trên họng pháo/ Kho Long Bình trong túi đặc công/ Bao mùa chiến dịch ghi chiến tích/ Hòa cùng truyền thống đất miền Đông”. Đó chính là hình ảnh một thời về chàng trai Trần Văn Kìa (tức Trần Công An, Hai Cà).
Nhắc tới ông, không ai có thể quên trận đánh sập tháp canh cầu Bà Kiên đêm 18 rạng sáng ngày 19-3-1948 ở phường Thạnh Phước, TX.Tân Uyên để sau này, ngày 19-3 trở thành ngày truyền thống của Binh chủng Đặc công - một lực lượng “chân trần, chí thép”.Khởi đầu lối đánh đặc công
Đến với Phòng truyền thống của Lữ đoàn Đặc công bộ 429 ở huyện Phú Giáo, hình ảnh Đại tá Trần Công An (tức Hai Cà), người con của vùng đất Thạnh Hội, TX.Tân Uyên được treo ở vị trí trang trọng nhất. Bởi ông là người có công đầu trong việc xây dựng, hình thành lối đánh đặc công. Theo lời kể của con trai thứ ba của ông Trần Công An (hiện đang sống trong ngôi nhà từ đường do ông bà để lại ở xã Thạnh Hội) thì ông Trần Công An tên thật là Trần Văn Kìa, thoát ly theo cách mạng từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong lòng của ông lúc bấy giờ, luôn nung nấu ý chí giải phóng quê hương.
Đầu năm 1948, quân Pháp triển khai chiến thuật De Latour, xây dựng hàng trăm đồn bót, tháp canh trên các trục lộ dọc đường 16, từ Tân Ba lên thị trấn Tân Uyên, đến sở cao su Phước Hòa và dọc lộ 24, từ ấp Cây Đào đến Rạch Đông để đàn áp phong trào cách mạng. Với cách bố phòng này, quân Pháp vừa bảo vệ an toàn đường giao thông của chúng trên các trục lộ giao thông, đồng thời cắt đứt giao thông liên lạc đường bộ của lực lượng kháng chiến.
Là phương tiện bố phòng nên quân Pháp cho xây dựng các tháp canh kiên cố. Tháp có hình vuông, mỗi cạnh từ 4 - 5m, tường dày từ 0,5 - 0,8m, cao từ 8 - 10m, được xây bằng đá hoặc gạch nung. Xung quanh tháp canh được bao bọc bởi lũy đất dày, có nhiều lỗ châu mai, hàng rào kẽm gai và chông mìn dày đặc… Mỗi tháp canh được bố trí cách nhau khoảng 1km để có thể báo hiệu và chi viện cho nhau nếu bị tấn công. Đan xen vào hệ thống tháp canh nhỏ có tháp canh lớn, còn gọi là tháp canh mẹ, cao từ 10 - 12m do một tiểu đội quân Pháp đóng giữ. Tháp canh mẹ được bố trí hỏa lực rất mạnh và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác liên lạc, chỉ huy. Hệ thống tháp canh của thực dân Pháp ở miền Đông Nam bộ đã gây cho lực lượng kháng chiến của ta rất nhiều khó khăn, đặc biệt là công tác giao liên và tiếp tế lương thực, vũ khí...
Lúc bấy giờ, Bộ Chỉ huy Khu 7 xác định phá hệ thống tháp canh của giặc Pháp, đánh bại chiến thuật De Latour là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của lực lượng vũ trang miền Đông nói chung và Tỉnh đội Biên Hòa nói riêng. Nhưng lúc này, vũ khí, trang bị của ta còn quá thô sơ, chưa có loại nào có sức công phá các bờ tường dày của hệ thống tháp canh, nên nhiệm vụ phá tháp canh tưởng chừng như không thể.
Được Ban Chỉ huy Huyện đội Tân Uyên giao nhiệm vụ phá tháp canh, phụ trách Đội du kích Tân Uyên, ông Hai Cà trong lòng rất lo lắng. Trở về hậu cứ, ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu cách đánh. Mục tiêu đầu tiên ông chọn là tháp canh ở đầu cầu Bà Kiên, nằm trên lộ 24 nối liền Biên Hòa - Vĩnh Cửu với Chiến khu Đ. Ông Hai Cà xác định, muốn đánh tháp canh phải giữ bí mật bằng cách bò qua hàng rào kẽm gai, trèo lên tường tháp rồi dùng lựu đạn ném vào bên trong… Nói thì dễ, làm thì khó vô cùng.
Với quyết tâm phải đánh thắng trận đầu, mở đường cho phong trào diệt tháp canh của địch về sau, ông Hai Cà cho toàn đội du kích của mình khổ luyện, đặc biệt là những người sẽ trực tiếp tham gia trận đánh. Ông đưa tổ “đặc nhiệm” chuẩn bị trận đánh vào sâu trong rừng, dựng một tháp canh giả bằng kích thước của tháp canh thật rồi tổ chức thực tập trận đánh. Một du kích giả làm lính Pháp trèo lên ngọn “tháp canh” cầm đèn pin rọi xung quanh để canh gác tháp. Các du kích còn lại cởi trần, dùng bùn non bôi khắp người hóa trang rồi bí mật bò vào chân tháp dùng thang tre dựng cặp tường tháp để leo lên ném lựu đạn vào bên trong tháp. Tập đến khi người ngồi trên “tháp canh” rọi đèn không phát hiện được người bên dưới mới thôi.
Để cho trận đánh chắc thắng, ông Hai Cà còn nhiều lần đi điều nghiên hệ thống bố phòng ở tháp canh cầu Bà Kiên để chỉnh sửa phương án tác chiến và cho đội du kích thực tập cách đánh đến khi thật nhuần nhuyễn. Khi thấy không còn sai sót gì, ông báo cáo cấp trên xin lệnh đánh tháp canh cầu Bà Kiên.
Ngày 19-3 lịch sử
Đêm 18 rạng sáng 19-3- 1948, ông Hai Cà chỉ huy một tổ gồm 2 du kích Trần Văn Nguyên và Hồ Văn Lung bí mật xâm nhập trận địa. Phía bên ngoài, ông cử 2 du kích Nguyễn Văn Ai và Trần Văn Hỏi làm nhiệm vụ cảnh giới. Nhờ ngụy trang tốt và giữ được yếu tố bất ngờ, cả 3 người xâm nhập thành công vào trận địa cùng với chiếc thang dùng để leo tường.


