Anh hùng Trần Dưỡng – người lính trinh sát xuất quỷ nhập thần trên chiến trường Quảng Đà
Trần Dưỡng (sinh năm 1940, quê Duy Xuyên, Quảng Nam) là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, một trong những chiến sĩ trinh sát tiêu biểu của chiến trường Quảng Đà trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ một cậu bé mồ côi phải đi ở chăn trâu, ông sớm tham gia cách mạng, trở thành chiến sĩ trinh sát, rồi tiểu đoàn trưởng và cán bộ quân báo Quân khu 5.
Trần Dưỡng sinh năm 1940 tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Năm 10 tuổi, ông mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải đi ở chăn trâu cho chủ để kiếm sống.
Năm 13 tuổi, ông được giác ngộ cách mạng và tham gia làm giao liên. Đến năm 19 tuổi, Trần Dưỡng vào chiến khu, chính thức trở thành chiến sĩ trinh sát.
Trong những năm chiến tranh, công việc của người lính trinh sát đặc biệt nguy hiểm. Họ phải thường xuyên luồn sâu vào vùng địch kiểm soát, nắm tình hình, phát hiện lực lượng, vị trí và hoạt động của đối phương, đồng thời thực hiện những nhiệm vụ chiến đấu trực tiếp.
Trần Dưỡng nhanh chóng trưởng thành trong thực tiễn chiến trường và trở thành một chiến sĩ trinh sát nổi tiếng ở Quảng Đà.
Năm 25 tuổi, ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau đó, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị, trong đó có Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 32 trinh sát Quân khu 5 và Phó Phòng Quân báo Quân khu 5.
Trận đánh “một chọi bốn mươi” ở Lộc Quý
Một trong những trận đánh được Trần Dưỡng nhắc lại với nhiều ấn tượng là trận đánh năm 1963 tại xã Lộc Quý, Đại Lộc, Quảng Nam.
Thời điểm đó, chính quyền Sài Gòn tổ chức bầu cử tại miền Nam và huy động một lực lượng lớn đến bảo vệ khu vực Lộc Quý. Theo bài viết của Người Lao Động, lực lượng đối phương tại đây có khoảng hơn 120 tay súng, gồm dân vệ, bảo an, tổng đoàn và cảnh sát.
Một tổ trinh sát chỉ có ba người gồm Trần Dưỡng, Trần Tum và Nguyễn Tú được giao nhiệm vụ phá cuộc bầu cử, tiêu diệt lực lượng ác ôn và gây dựng phong trào đấu tranh của nhân dân.
Mỗi người mang theo một khẩu AK báng xếp, 150 viên đạn, sáu quả lựu đạn và một dao găm.
Khoảng 1 giờ sáng, Trần Dưỡng và Trần Tum bí mật đột nhập trụ sở xã Lộc Quý, chui vào tủ đựng hồ sơ để ẩn náu. Nguyễn Tú phục kích bên ngoài, giữa một bụi tre.
Đến khoảng 7 giờ sáng, khi dân chúng tập trung đông tại sân trụ sở và lễ khai mạc vừa bắt đầu, thời cơ chiến đấu xuất hiện.
Trần Dưỡng và Trần Tum bất ngờ từ hai tủ hồ sơ lao ra. Loạt đạn đầu tiên đánh trúng tên xã trưởng và hai cảnh sát. Bị tấn công bất ngờ, lực lượng đối phương rối loạn, triển khai bao vây.
Từ vị trí bên ngoài, Nguyễn Tú nổ súng hỗ trợ. Trần Dưỡng và Trần Tum tranh thủ thu tài liệu rồi hòa vào đám đông để rút khỏi trụ sở.
Cuộc truy đuổi sau đó diễn ra quyết liệt. Ba chiến sĩ lợi dụng địa hình lũy tre, luống khoai mì để vừa chiến đấu, vừa hỗ trợ nhau thoát khỏi vòng vây.
Theo bài viết, sau hơn một giờ chiến đấu, tổ trinh sát đã thoát ra an toàn; hơn 40 đối phương bị tiêu diệt, một số khác bị thương, hàng trăm người dân tham dự cuộc bầu cử được bảo đảm an toàn. Tổ trinh sát thu được sáu khẩu súng và một số tài liệu.
Người chỉ huy gan dạ trên chiến trường Quảng Đà
Đầu năm 1974, khi mặt trận Quảng Đà chuẩn bị cho những trận đánh lớn, các đơn vị trinh sát được tăng cường về chiến trường. Khi ấy, Trần Dưỡng là Đại úy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 32 trinh sát Quân khu 5.
Chiến trường Quảng Đà khi đó vô cùng ác liệt. Pháo binh, mìn, thám báo và biệt kích của đối phương xuất hiện dày đặc quanh các đồn bốt.
Trong môi trường ấy, Trần Dưỡng được đồng đội xem là một người lính trinh sát đặc biệt gan dạ, giàu kinh nghiệm và có khả năng hoạt động bí mật sâu trong vùng địch kiểm soát.
Những người từng chiến đấu cùng ông coi ông như một “người anh cả” của lực lượng trinh sát Quảng Đà.
Nguyên tắc “hai không” của người lính trinh sát
Trong những câu chuyện về đời lính của Trần Dưỡng, một chi tiết được nhắc đến là nguyên tắc “hai không” được truyền miệng trong lực lượng trinh sát.
Đó là:
Đi trận gặp vàng không được lượm.
Trước khi đi trận, gặp gái không được đụng đến.
Theo cách giải thích của những người lính trinh sát, đây không đơn thuần là hai quy định sinh hoạt, mà là lời nhắc nhở chiến sĩ phải giữ mình, không để vật chất hoặc chuyện riêng tư làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ và sự an toàn của bản thân.
Trần Dưỡng được đồng đội kể lại là người thực hiện nguyên tắc ấy rất nghiêm túc.
Ông dành trọn những năm tháng tuổi trẻ cho chiến trường và chỉ lập gia đình sau khi chiến tranh kết thúc một thời gian.
Ba mươi năm cầm súng
Theo bài viết Vẫn anh hùng giữa đời thường của Vũ Bình, Trần Dưỡng có khoảng 30 năm trực tiếp hoạt động trong quân đội, trải qua chiến tranh chống Mỹ và công tác quân báo.
Năm 30 tuổi, ông giữ cương vị Tiểu đoàn trưởng.
Đến năm 39 tuổi, ông là Phó Phòng Quân báo Quân khu 5.
Năm 1984, ở tuổi 44, ông nghỉ hưu khi mang quân hàm Trung tá. Sức khỏe giảm sút nghiêm trọng sau những năm tháng chiến đấu và điều trị bệnh.
Người anh hùng giữa đời thường
Sau khi nghỉ hưu, cuộc sống của Trần Dưỡng không hề dễ dàng.
Ông phải trải qua nhiều khó khăn về sức khỏe và kinh tế. Sau khi cắt một phần dạ dày và một đoạn ruột, sức khỏe suy yếu, mỗi ngày ông phải chia thành nhiều bữa ăn nhỏ.
Hai người con khi đó còn nhỏ, trong khi vợ ông là một bác sĩ đang công tác tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng.
Lương hưu và chế độ dành cho người anh hùng lúc bấy giờ còn hạn chế, Trần Dưỡng phải làm nhiều công việc để nuôi các con ăn học.
Ông từng làm giữ xe tại rạp chiếu bóng, rồi chuyển sang đạp xe lôi, mua đá cây về bán cho các quán giải khát, nhà hàng. Khi sức khỏe không còn cho phép tiếp tục công việc nặng nhọc, ông chuyển sang bán bánh mì.
Những công việc rất bình dị ấy không làm mất đi phẩm chất của người lính năm xưa. Trái lại, trong đời thường, Trần Dưỡng vẫn giữ lối sống giản dị, tự trọng và trong sáng.
Bài viết của Người Lao Động nhận xét hình ảnh ấy như một người anh hùng vẫn giữ được phẩm chất của “anh bộ đội Cụ Hồ”, dù đã rời chiến trường từ lâu.
Nặng lòng với đồng bào vùng căn cứ
Điều đáng chú ý trong câu chuyện về Trần Dưỡng không chỉ là những chiến công mà còn là tình cảm của ông đối với những người dân từng che chở, nuôi dưỡng bộ đội trong chiến tranh.
Khi trở lại thăm những vùng căn cứ cũ, ông chứng kiến cuộc sống của nhiều gia đình vẫn còn khó khăn. Ông trăn trở trước cảnh những người từng hết lòng đùm bọc bộ đội trong những năm tháng chiến tranh nay vẫn thiếu thốn.
Đó cũng là tâm sự cuối cuộc gặp với người viết bài báo: người lính năm xưa đã không quên những người dân từng chia sẻ gian khổ với mình trong chiến tranh.



