Bài viết

ANH HÙNG TRẦN HOÀNG XÊ

Thông tin nhân chứng: -Họ và tên:Trần Văn Xê -Năm sinh:1954 -Quên quán:Đông Phong,Đông Hưng -Tóm tắt quá trình cống hiến:Ông là một cựu học sinh trường Nam Đông Quan,vì chiến tranh,ông chỉ mới lớp 10 chuẩn bị sang lớp 11 thì đã phải gác lại cây bút,quyển vở để lên đường nhập ngũ với tinh thần “tất cả vì Miền Nam”,ông huấn luyện ở Trung Đoàn 51 của tỉnh Thái Bình,sau khi huận luyện 3 tháng, ông được bổ sung vào trung đoàn 3047 đi vào chiến trường Tây Nguyên, đi từ đêm 19/4/1972 thì ông đã hành qu

Hưng Yên31/12/2025Hà Việt Dũng, Bùi Ngọc Anh, Phạm Thị Khánh Hằng, Nguyễn Quốc Hưng, Đào Thị Thùy Linh,Vũ Thị Mơ -Lớp 12a8 (xã Đông Quan)6 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông tên là Trần Văn Xê, sinh năm 1950. Ông từng là cựu học sinh Trường Nam. Tuổi trẻ của ông gắn liền với sách vở và ước mơ học tập, nhưng chiến tranh đã đến khi ông mới chỉ hết lớp 10-chuẩn bị lên lớp 11,ông đã tình nguyện nhập ngũ vào năm 1971, gác lại con đường học hành để khoác lên mình màu áo lính.

Những ngày đầu nhập ngũ, trái tim ông như rực lửa. Đó là ngọn lửa của lòng yêu nước, của khát vọng được tham gia kháng chiến, góp sức giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ông được huấn luyện tại Trung đoàn 51 của tỉnh Thái Bình. Sau ba tháng rèn luyện gian khổ, đến tháng 4 năm 1972, ông được bổ sung vào Trung đoàn 3047 và bắt đầu hành quân vào chiến trường Tây Nguyên.

Đêm 19/4/1972, ông cùng đồng đội lên đường. Đoàn quân hành quân đến Ninh Bình rồi nghỉ lại, sau đó tiếp tục nhận quân trang, bổ sung đồ dùng và đi bộ vào Nghệ An. Trải qua nhiều chặng đường dài, đến ngày 4/8/1972, ông và tiểu đội mới đặt chân được tới Tây Nguyên, tiếp tục được bổ sung vào Tiểu đoàn 2, Chi đoàn 48, Sư đoàn 320.

Cuộc sống của người lính trong những ngày đầu vô cùng vất vả. Suốt hơn ba tháng hành quân trên đường Trường Sơn, mỗi chiến sĩ phải mang trên người khoảng 25kg tư trang. Ông cùng đồng đội trèo đèo, lội suối, đi bộ trong điều kiện khắc nghiệt. Mùa mưa Trường Sơn mưa trắng trời, mưa xối xả, có cả thác lũ. Trên đường hành quân, họ còn phải đối mặt với bọn thám báo của địch – những kẻ chuyên do thám, thu thập thông tin để gọi máy bay ném bom. Có lệnh thì đánh, không có lệnh thì tránh, tất cả đều nhằm bảo toàn lực lượng.

Có lần, đoàn quân của ông bị dính bom B52 do địch thả xuống. Tiểu đoàn khoảng một nghìn chiến sĩ hành quân thành hàng dài. May mắn, đoàn của ông tránh được thương vong, nhưng đoàn phía sau bị trúng bom, hi sinh và bị thương rất nhiều. Hình ảnh ấy trở thành ký ức đau xót mà ông không bao giờ quên.

Một kỷ niệm đặc biệt khắc sâu trong tâm trí ông là đêm 19/4/1972, khi đoàn quân di chuyển về hướng Phà Tân Đệ. Vì lo sợ địch phát hiện và đánh bom, ông cùng các chiến sĩ phải đi đò của nhân dân để vượt sông. Từ đò Cống Vực sang Vũ Thư, bên kia là xã Tân Bình, ông đã ngoái lại nhìn dòng sông đang cuộn chảy, nước đầu nguồn dâng cao. Khoảnh khắc ấy, trong ông dâng trào nỗi nhớ gia đình, nhớ quê hương, nhớ những người thân yêu. Nhưng rồi ông vẫn lặng lẽ khoác ba lô lên vai, tiếp tục đi vào miền Nam cứu nước. Đó là sự lựa chọn của lý tưởng lớn hơn tình riêng.

Ngày 9/8/1972, ông tham gia trận chiến đầu tiên. Trước giờ ra trận, ông hồi hộp với nhiều nỗi lo: không biết mình nổ súng thế nào,kẻ địch ra sao nhưng khi chứng kiến quá trình và khi tận mắt chứng kiến đồng đội bắn cháy xe tăng địch, trong ông bỗng trào dâng cảm xúc rạo rực, thôi thúc được chiến đấu. Tuy nhiên, nhiệm vụ của ông là quan sát trận địa, theo dõi hướng tiến công, số lượng xe tăng của địch để báo cáo cho tiểu đội trưởng và đội trưởng, giúp chỉ huy lựa chọn phương án đánh phù hợp.

Trong chiến đấu, ông có những người bạn thân thiết còn sống đến hôm nay, trong đó có bác Khổng Lê Tấn hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và bác Nguyễn Thị Diện, quê ở Hồng Việt. Tình đồng đội của họ được xây dựng từ những ngày sống chết bên nhau, chia sẻ từng miếng ăn, từng giấc ngủ giữa bom đạn.

trong chiến tranh khó khăn vô cùng không thể tả hết được cùng với những mất mát là một điều không thể thiếu như tháng 8-9/1973, khi ông và đồng đội đang trú ẩn, một chiếc máy bay N19 của Mỹ bay qua khu vực Pleiku đã phát hiện tín hiệu sóng radar của đơn vị quân giải phóng. Sau đó, địch thả bom nổ ở khu vực ấy trước và biết mình phải ra khỏi hầm trú ẩn để băng bó vết thương rồi địch mới dùng bom napalm(hiểu là bom xăng) đánh xuống tiếp, bom napalm đốt cháy hết quần áo, balo, súng đạn và trên người ông cùng đồng đội chỉ còn đúng bộ quần áo-nhưng đó chỉ là những mất mát cá nhân bởi ông biết bây giờ đơn vị chưa có gì để bổ sung được. Lúc ấy ông cùng với đồng đội mặc mỗi bộ quần áo ấy mặc đến 8 ngày sau. Có những lúc ông và đồng đội 10-15 ngày không tắm rửa chỉ ở trận địa và sống trong điều kiện khó khăn với những hiểm nguy đang rình rập. Những ngày ấy, có lúc ông và đồng đội 10–15 ngày không được tắm giặt, sống trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, hiểm nguy luôn rình rập.

Ngày đất nước hòa bình, trong ông vỡ òa niềm vui và phấn khởi. Đó là cảm xúc khó tả khi biết đất nước đã độc lập, xen lẫn niềm tự hào vì bản thân đã góp một phần nhỏ bé vào chiến thắng trường kỳ của dân tộc.

Nhìn lại cuộc đời mình, ông gửi gắm thông điệp chân thành đến thế hệ học sinh hôm nay:
“Các cháu bây giờ được lớn lên trong hòa bình, được học hành đầy đủ, được gia đình chăm sóc. Các cháu phải cố gắng cho bản thân mình. Các cháu trưởng thành thì xã hội trưởng thành, xã hội trưởng thành thì đất nước trưởng thành. Hãy nhớ lịch sử, đừng bao giờ quên những gì cha ông đã dùng máu và tình yêu nước để tạo nên tương lai hôm nay.”

Cuộc đời ông Trần Văn Xê là một bản ghi chép chân thực về người lính đi qua chiến tranh bằng lòng yêu nước, sự kiên cường và hy sinh thầm lặng. Đó là một cuộc đời không ồn ào, nhưng xứng đáng được trân trọng và khắc ghi trong ký ức của các thế hệ mai sau

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ANH HÙNG TRẦN HOÀNG XÊ | Câu chuyện thời hoa lửa