Anh hùng Trần Hùng Vách
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Hùng Vách sinh năm 1949, tại xã Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Từ năm 1967 đến năm 1971, ông là vệ binh thành đội Huế. Ông tham gia nhiều trận đánh, lập nhiều thành tích cao trong chiến đấu và được đơn vị cử đi học lớp Trung đội trưởng tại Trường sỹ quan Lục quân 1. Năm 1972, ông được điều về làm Trung đội trưởng Tăng thiết giáp, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên rồi Nam Bộ. Ông đã chỉ huy Trung đội đánh 5 trận, trận nào cũng thắng lớn, có những trận đánh gay go, ác liệt đòi hỏi người chỉ huy phải cương quyết, dũng cảm và mưu trí. Trần Hùng Vách đã chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, riêng ông diệt và làm bị thương 75 tên địch, bắn cháy 2 xe quân sự, phá hủy 10 súng đại liên, 2 súng M72 và 6 lô cốt địch. Chiến công nổi bật của ông gắn liền với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 10/3/1975, Trung đội trưởng Trần Hùng Vách được giao phụ trách 4 xe tăng cùng đơn vị tiến đánh giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Sau 3 ngày chiến đấu ác liệt, thị xã được giải phóng, trung đội của ông nhận nhiệm vụ tiếp tục truy kích địch dọc theo đường số 7 từ Buôn Ma Thuột về thị xã Phú Yên. Rạng sáng 30/3/1975, Trần Hùng Vách cùng đơn vị tấn công chiếm Tòa thị chính Phú Yên, ông được lệnh chỉ huy trung đội đánh thọc sâu xuống cảng Phú Yên, nơi địch bố trí Liên đoàn biệt động 88 và tiểu đoàn bộ binh án ngữ, tạo đường rút chạy về Sài Gòn. Đội hình quân ta tiến ra cảng lúc này có 8 xe tăng và xe bọc thép phối hợp cùng bộ binh, xe của Trần Hùng Vách đi đầu. Địch chống trả rất quyết liệt, chiếc xe tăng đi sau xe ông Vách bị địch bắn cháy khiến các xe phía sau không thể tiến lên được. Tình thế lúc này rất khốc liệt và không thể dừng lại, Trần Hùng Vách ra lệnh cho lái xe tiếp tục tiến lên. Cách Tòa thị chính 1 km, xe ông gặp 1 chiếc cầu nhỏ, trên cầu có 2 xe tăng địch án ngữ, ông hạ lệnh tiêu diệt 2 xe rồi tiếp tục tiến về phía cảng. Trên đường đi, địch tưởng nhầm xe của ông là xe của chúng, nên không phản ứng gì, thậm chí có tên còn giơ tay vẫy chào. Biết địch nhầm, ông tiếp tục nghi binh, cho xe tiến đến vị trí thuận lợi nhất rồi ra lệnh nổ súng, đánh từ trong đội hình của địch đánh ra. Xe của Trần Hùng Vách trúng 4 quả đạn chống tăng của địch, 9 chiến sỹ bộ binh và đồng chí pháo thủ bị thương và hy sinh, trong xe chỉ còn ông Vách và đồng chí Quyền lái xe, một người tiếp đạn, một người đứng bắn. Hai ông dùng súng 12 ly 7, B40, B41 liên tục tấn công địch. Lúc này, địch có hàng ngàn tên, dạt sang hai bên đường, chúng dùng súng chống tăng, B90, M72 và tiểu liên bắn xối xả về phía các ông, với mưu đồ bắt sống. Sau hơn 1 giờ quần nhau với địch, thấy địch co cụm lại và có ý định tràn lên, Trần Hùng Vách quyết định liên lạc với Sở Chỉ huy yêu cầu chi viện pháo binh bắn thẳng vào đội hình địch. Đến 7 giờ sáng, một mảnh đạn chống tăng của địch găm vào tay phải ông, ông vẫn kiên cường bám trụ tiếp tục chiến đấu. Đúng lúc đó, bộ binh vận động đến phối hợp, tập thể xe tăng 419 cùng bộ binh làm chủ khu vực cảng Phú Yên. Trong trận này, Trần Hùng Vách cùng đồng đội tiêu diệt 3 xe M41 và M113, 2 xe zeep gắn ĐK, 6 ổ 12 ly 8 và đại liên của địch, diệt gọn hàng trăm tên địch. Ông bị thương và được đưa đi điều trị tại quân y viện Sư đoàn 320. Nhưng chỉ được 5 ngày, ông trốn viện trở về đơn vị khi vết thương vừa khép miệng. Ngày 27/4/1975, trong đội hình thiết giáp của Lữ đoàn 273, Quân đoàn 3, Trần Hùng Vách chỉ huy một trung đội xe tăng tiến vào Sài Gòn. Đêm 29, rạng sáng 30/4/1975, ông cùng đơn vị đánh chiếm trung tâm huấn luyện Quang Trung của địch, vào sâu trong nội thành Sài Gòn. Trong chiến dịch này, Trần Hùng Vách cùng đồng đội đã chiến đấu với tinh thần quả cảm. Ba lần bị thương, nhưng ông vẫn nén đau, tiếp tục chỉ huy trung đội tăng, dũng mãnh xông lên tiêu diệt các mục tiêu của địch ở Ngã ba Bà Quẹo, Ngã tư Bảy Hiền, cùng bộ binh đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, góp phần vào thắng lợi chung của đất nước. Với những thành tích trong chiến đấu, Trần Hùng Vách được tặng thưởng hai Huân chương chiến công hạng Nhì, một huân chương chiến công hạng Ba và nhiều phần thưởng khác. Ngày 15/1/1976, ông được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



