Anh hùng Trần Hùng Vách
Trần Hùng Vách sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Tam Quan, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ tháng 4 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chuẩn úy, trung đội trướng đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 273 thiết giáp, Quân đoàn 3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trần Hùng Vách sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Tam Quan, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ tháng 4 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chuẩn úy, trung đội trướng đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 273 thiết giáp, Quân đoàn 3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1967 đến năm 1971, Trần Hùng Vách là vệ binh thành đội Huế, tham gia chiến đấu 6 trận, diệt 8 tên Mỹ.
Từ năm 1971, sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan thiết giáp, Trần Hùng Vách tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên và Nam Bộ. Đồng chí chỉ huy trung đội tăng đánh 5 trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Riêng bản thân diệt được 75 tên địch, bắn cháy 2 xe quân sự, phá hủy 10 súng đại liên, 2 súng M.72 và 6 lô cốt.
Đặc hiệt trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, chiến đấu ở Buôn Ma Thuật, Tuy Hòa và tây - bắc Sài Gòn, ba lần bị thương, Trần Hùng Vách vẫn tiếp tục chỉ huy trung đội tăng dũng mãnh xông lên đánh địch, góp phần vào thắng lợi chung của các trận đánh.
Trần Hùng Vách được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.
Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Trần Hùng Vách được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



