Anh hùng Trần Ngọc Phương
thúc ông trích máu viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Vào bộ đội, ông cùng đơn vị nhận lệnh sang chiến đấu bên nước bạn Lào. Là chiến sĩ mới song ông không ngần ngại trước bất cứ nhiệm vụ nào, có lần địch gài mìn trên đường, ông xung phong đi gỡ để đơn vị hành quân an toàn. Lần khác, khi ông và đồng đội được cử đi trinh sát, một chiến sĩ hy sinh, vậy là ông gùi xác bạn trên lưng trèo qua những vách đá dựng đứng đưa về đơn vị, thức trắng đêm canh thú rừng để bạn yên nghỉ…
Ngày 8/4/1964, đơn vị ông được giao nhiệm vụ đánh đồn Phú - Nọo. Địch có một tiểu đoàn chốt giữ với hỏa lực rất mạnh nhưng các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam kiên cường tấn công buộc chúng phải tháo chạy. Ông và đơn vị truy kích ròng rã 7 ngày đêm giữa rừng già. Đến một bản người Lào, người dân báo tin có mấy tên tàn quân đang nấp trong nhà sàn, sẵn sàng tử thủ. Ông và đồng đội bí mật áp sát kêu gọi chúng đầu hàng, một tên cầm lựu đạn lao ra liền bị ông quật ngã, quả lựu đạn đã giật chốt bị ông đá văng xuống vực trước khi phát nổ, tên còn lại bỏ chạy vào rừng nhưng bị ông dùng súng AK tiêu diệt.
Khoảng 8 giờ ngày 18/5/1964, đơn vị ông đang đóng ở đồi Phu-Bạ (Thượng Lào) thì địch tấn công, nhưng chỉ sau 30 phút, không diệt được mục tiêu chúng rút lui. Đến 15 giờ cùng ngày, địch trở lại với hàng chục xe tăng, xe bọc thép, xe Jeep, xe MG… và hai tiểu đoàn bộ binh. Qua thông tin trinh sát, được biết chúng hành quân từ Mường Khương về Cánh đồng Chum. Lực lượng hai bên quá chênh lệch, trong khi đơn vị ông chỉ có 3 tiểu đội thì địch có hàng trăm tên, trang bị hỏa lực mạnh. Giữa làn mưa đạn của địch, ông (lúc đó là chiến sĩ liên lạc) phát hiện đồng chí xạ thủ B40 bị thương (đơn vị có duy nhất một khẩu B40 để tiêu diệt xe tăng), ông liền lao tới cầm súng áp sát đội hình địch. Khi ấy ông chỉ suy nghĩ phải làm sao tiêu diệt bằng được những con quái vật bằng sắt thép kia, không để đồng đội hy sinh thêm nữa, dù bản thân có phải ngã xuống.
Ông nhằm thẳng chiếc xe chở quân của địch siết cò, xe bị bắn hỏng, 7 tên địch nhảy xuống định phản công, ông liền rút lựu đạn tiêu diệt. Ngay khi đồng đội lắp quả đạn khác thì ông nghe tiếng chỉ huy hô bắn xe tăng trước, ông nâng khẩu B40 lên nhả đạn, một quầng lửa bùng lên, chiếc xe tăng khựng lại, nhưng ông cũng bị sức ép hất văng ra, ngất lịm. Tỉnh dậy, ông thấy mình bị găm mảnh đạn, máu trào ra, nhưng vẫn cùng đồng đội dùng súng, lựu đạn buộc số quân địch còn lại phải đầu hàng. Lúc ấy ông mới biết chiếc xe tăng vừa tiêu diệt có tên Trung tá chỉ huy cao nhất của địch và toàn bộ nhóm lính thông tin ở trong. Vì thế địch như “rắn mất đầu”, hoảng loạn, không còn tinh thần chiến đấu. Chỉ với 27 cán bộ, chiến sĩ, quân ta đã bắt sống gần 2 tiểu đoàn (Trong đó 44 sĩ quan, 19 xe tăng, 4 xe tải…).
Sau những chiến công vang dội, tháng 8/1965, ông được cử tham dự Đại hội Thanh niên quyết thắng toàn quân. Ông là đại biểu trẻ nhất khi mới 20 tuổi và cũng là lần đầu tiên vinh dự được gặp Bác Hồ. Trước đó, ông đã được nhận Huân chương Quân công hạng Ba.
Vì ít tuổi nhất nhưng thành tích cũng ấn tượng nhất nên sau khi nghe ông báo cáo, Bác ôm và động viên tiếp tục trở về đơn vị thi đua lập công. Tấm ảnh chụp ông và những thanh niên quyết thắng đứng quanh Bác hôm đó được ông nâng niu, gìn giữ đến hôm nay.
Lần thứ hai ông được gặp Bác là tháng 1/1967, khi ấy ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và trước đó là Huân chương Chiến công hạng Nhì, đồng thời được cử về Hà Nội dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua lần thứ IV. Sáng ngày 2/1/1967, Bác mời 111 Anh hùng vào Phủ Chủ tịch gặp mặt, sau khi nghe ông báo cáo thành tích, Bác căn dặn: “Có cá nhân Anh hùng vì chúng ta có tập thể Anh hùng, dân tộc Anh hùng”.
Câu nói ấy được ông khắc ghi và luôn làm theo với tinh thần hết lòng vì tập thể, vì Tổ quốc. Cũng trong buổi gặp mặt ấy, biết đơn vị ông làm nhiệm vụ ở khu vực Tây Bắc và nước bạn Lào, Bác khen: “Các chú bộ đội Điện Biên đánh gần cũng giỏi mà đánh xa cũng giỏi!”. Nghe ông kể lại lời Bác, đơn vị ông đã lấy đó làm kim chỉ nam, ra sức thi đua để giành thêm nhiều thành tích.
Tối ngày 2/1/1967, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổ chức chiêu đãi các Anh hùng quân đội, ông Phương là một trong hai chiến sĩ tiêu biểu được Đại tướng mời riêng nâng ly mừng công.
Lần cuối ông được gặp Bác vào tháng 8/1969 khi Người đã mệt nặng. Nhìn Bác nằm trên giường bệnh mà ông và các đại biểu nghẹn ngào không nói nên lời. Ông thầm hứa sẽ quyết tâm làm theo những lời Bác dặn, suốt đời phụng sự Tổ quốc, nhân dân, đi theo con đường mà Đảng và Bác đã lựa chọn.
Năm 1973, ông Trần Ngọc Phương được giới thiệu đảm nhiệm chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh đoàn Hà Bắc. Khi biên giới phía Bắc căng thẳng, ông được cử sang làm Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 196 của Tỉnh đội Hà Bắc rồi trực tiếp đưa đơn vị lên Lạng Sơn chiến đấu. Một lần nữa ông lại bị thương, buộc phải đưa về tuyến sau điều trị. Năm 1983 ông nghỉ hưu nhưng vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, nêu cao tinh thần Bộ đội Cụ Hồ.
Bằng vốn kiến thức phong phú và tình cảm sâu đậm với đất nước Triệu Voi, năm 1987 ông đứng ra vận động ra mắt Ban liên lạc Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào của tỉnh. Năm 2005, ông tham gia thành lập Hội hữu nghị Việt Nam - Lào và đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội. Hiện nay Hội có khoảng 4000 hội viên sinh hoạt ở các huyện, thành phố.


