Anh hùng Trần Quốc Hương – Bản trường ca kiên trung bất khuất của quê hương Ninh Bình
Trần Quốc Hương (20 tháng 12 năm 1924 – 11 tháng 6 năm 2020), còn gọi là Mười Hương, là một nhà hoạt động cách mạng, chính khách và chỉ huy tình báo Việt Nam. Ông nguyên là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung...

1. Bối cảnh lịch sử và xuất thân của người chiến sĩ kiên trung
Trần Quốc Hương (20 tháng 12 năm 1924 – 11 tháng 6 năm 2020), còn gọi là Mười Hương, là một nhà hoạt động cách mạng, chính khách và chỉ huy tình báo Việt Nam. Ông nguyên là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội, Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh, là người chỉ huy mạng lưới tình báo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh Việt Nam.
Ông tên thật là Trần Ngọc Ban, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1924 tại xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình). Có tiếng là tư sản, nhưng cha ông, nhà thầu khoán Trần Ngọc Tân, lại mang nhiều nét chất phác, cần kiệm của người nông dân Bắc Bộ. Trần Ngọc Ban từ nhỏ được cha cho đi học chữ Nho từ khi còn nhỏ. Thầy dạy bấy giờ của ông là Nguyễn Đức Quỳ, một nhà cách mạng Việt Nam. Chính ông Quỳ đã giác ngộ Trần Ngọc Ban đến với sự nghiệp hoạt động cách mạng.
2. Những chiến công oanh liệt nơi trận tiền
Mới 14, 15 tuổi, Trần Ngọc Ban đã tích cực tham gia phong trào Thanh niên dân chủ. Học hết lớp nhất tại trường tiểu học Phủ Lý, ông chuyển lên Hà Nội nhập học ở trường dòng phố Nhà Chung. Thời gian này ông lấy bí danh là Trần Quốc Hương, nhiệt tình tham gia phong trào Hướng đạo và Hội truyền bá quốc ngữ.
Thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông tham gia hoạt động trong Đoàn Thanh niên Dân chủ, Phản đế và sau đó là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Thanh niên Cứu quốc Hà Nội. Năm 1942, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt trong cuộc đấu tranh ủng hộ Liên Xô, bị giam cầm ở Nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Trong tù, ông giữ vững khí tiết, được đồng chí và tổ chức tin cậy.
Năm 1943, ra tù ông bắt được liên lạc hoạt động ngay và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, sau khi học xong lớp do Xứ uỷ mở, ông được phân công về làm Tỉnh uỷ viên, Tỉnh uỷ Phúc Yên. Thời kỳ này, ông thường làm việc bên cạnh các lãnh đạo Cộng sản và Việt Minh như Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt...
3. Khí phách kiên cường và tinh thần hy sinh bất khuất
Năm 1944, ông được Tổng bí thư Trường Chinh bổ sung vào Ban Công tác đội của Thường vụ Trung ương lo căn cứ địa (ATK) và làm phái viên liên lạc với những đầu mối đặc biệt thuộc Trung ương (các tổ chức văn hoá, Thành ủy Hà Nội) hay một số thành viên thuộc Đảng xã hội, Đảng cộng sản Pháp (nhóm " Các đồng chí người Âu ” trong quân đội lê dương của Pháp).
Hà Nội vừa giành chính quyền thành công, Nguyễn Lương Bằng giao cho Trần Quốc Hương việc tổ chức ra báo Cờ giải phóng của Đảng. Trần Quốc Hương cũng là một trong những người đóng góp tích cực trong thành công của buổi lễ Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ trách vấn đề an ninh bảo vệ.
Từ tháng 8 năm 1945, ông làm Thư ký, phụ trách Văn phòng của Tổng Bí thư Trường Chinh (từ tháng 11 năm 1945, là Hội trưởng Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương). Năm 1946, ông trong Ban Công vận Thành uỷ, làm Bí thư Hội Công nhân Cứu quốc Hà Nội và phụ trách Nhà in Tiến Bộ, Báo Cờ giải phóng, Nhà xuất bản Sự thật của Trung ương.
Kháng chiến bùng nổ, Trung ương lập G.L.A (Giao thông-Liên lạc-An toàn khu), đảm trách nhân khẩu báo chí, duy trì thông tin liên lạc từ Trung ương đi các chiến khu. Trần Quốc Hương được giao phụ trách tại bộ phận này từ năm 1946 đến 1948.
Năm 1949, trong một lần công tác, ông gặp ông Trần Hiệu, Cục trưởng Cục Tình báo quân sự thuộc Bộ Quốc phòng. Ông Trần Hiệu đã đề nghị với lãnh đạo Trường Chinh để Trần Quốc Hương về công tác trong bộ phận tình báo và phản gián. Đề nghị được chấp thuận, và từ đó Trần Quốc Hương công tác ở Cục Tình báo quân sự, làm đặc phái viên ở Liên khu 3 và Hà Nội.
Năm 1950, Cục Tình báo được giải thể để thành lập 2 cơ quan tình báo riêng biệt là Cục Quân báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu và Ty Tình báo thuộc Nha Công an. Ông Trần Hiệu được điều động làm Phó Giám đốc Nha Công an kiêm Trưởng ty Tình báo. Trần Quốc Hương cũng được điều động về Nha Công an. Đến tháng 7 năm 1951, cơ quan tình báo chiến lược với tên gọi Nha Liên lạc thuộc Thủ tướng Phủ được thành lập. Ông Trần Hiệu lại được điều động làm Giám đốc Nha Liên lạc. Trần Quốc Hương cũng được bổ nhiệm là Phó giám đốc Nha Liên lạc.
Cuối tháng 4 năm 1954, khi đang công tác biệt phái tại địa phuơng, Trần Quốc Hương bất ngờ nhận được điện từ Trung ương yêu cầu về chiến khu Việt Bắc. Lúc này, quân Pháp bắt đầu có biểu hiện kém thế trên chiến trường Điện Biên Phủ và các cuộc đàm phán tại Hội nghị Genève có nhiều lợi thế cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, các lãnh đạo Việt Minh đã sớm có nhận định về một cuộc đấu tranh lâu dài sẽ tiếp tục sau đó, vì vậy cần có sự chuẩn bị trong tuơng lai. Trần Quốc Hương được đích thân các lãnh đạo Trường Chinh và Phạm Văn Đồng gặp và giao nhiệm vụ gấp rút vào Nam Bộ để chuẩn bị cho việc tổ chức hoạt động tình báo trong khu vực dự định tập kết của phe thân Pháp.
Sau khi nhận công tác, Trần Quốc Hương vào Nam Bộ. Ông bắt đầu lấy bí danh là Mười Hương. Cùng vào với ông có Hoàng Minh Đạo, bí danh Năm Đạo, nguyên Trưởng phòng Tình báo quân sự. Ngày 18 tháng 10 năm 1954, Ban Địch tình trực thuộc Xứ ủy được thành lập, phụ trách thống nhất các lực lượng tình báo tại miền Nam. Nhân sự chủ chốt gồm có Văn Viên, Xứ ủy viên làm Trưởng ban; Mai Chí Thọ (Tám Cao), Phó giám đốc Công an miền Đông, và Hoàng Minh Đạo (Năm Đạo), phái viên trung ương, làm Phó trưởng ban; Cao Đăng Chiếm (Sáu Hoàng), Giám đốc Nha Công an Sài Gòn, phụ trách phản gián về chính trị và kinh tế; chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), phái viên trung ương, phụ trách hệ thống chính trị đi sâu vào nội bộ chính quyền Quốc gia Việt Nam (sau là Việt Nam Cộng hòa). Năm 1955, Trưởng ban Văn Viên hy sinh, Mai Chí Thọ được cử làm Trưởng ban Địch tình.
Mười Huơng ngay lập tức tiếp nhận các đầu mối công tác, phối hợp với các lãnh đạo công an ở Nam Bộ để tiếp nhận các đầu mối và cơ sở tình báo ở lại miền Nam cũng như các tình báo viên mới vào theo các chuyến di cừ từ Bắc vào, tăng cường chỉ đạo các tình báo viên tăng cường cài cắm, nhưng tập trung giữ mình để chui sâu trèo cao vào những vị trí quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ông mở nhiều lớp huấn luyện tình báo, học viên chủ yếu tuyển lựa trong lực lượng công an.
Từ tháng 6 năm 1958, Mười Hương bất ngờ bị Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung bắt giam ở Huế. Để giữ bí mật, ông đã khai tên giả là Trần Ngọc Trí và khôn khéo phản bác trong các cuộc thẩm vấn để bảo vệ các đầu mối. Chính vì những hành động này, về sau, khi thẩm tra về thời kỳ ông bị bắt, Ban Bí thư đã kết luận: "Đồng chí Trần Quốc Hương, tức Mười Hương, là một cán bộ tốt, kiên cường, khôn khéo đối với địch khi bị chúng bắt". Nhờ đó, ông không bị ảnh hưởng nhiều sự nghiệp chính trị sau này.
Tuy không tìm được bằng chứng để kết tội, nhưng các mật vụ của Ngô Đình Cẩn cũng có nhiều thông tin để phán đoán Mười Hương là một tù nhân có giá trị cao. Vì vậy, ông vẫn bị giam giữ tại trại giam Tòa Khâm. Trong tình trạng bị giam giữ và quản thúc chặt chẽ, ông vẫn rất bình tĩnh, giúp cho các tình báo viên khác cũng bị giam ở đây (như Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Nguyễn Xuân Hòe, Vũ Hữu Ruật...) giữ vững được ý chí để trở lại hoạt động khi có điều kiện.
Mãi sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ và những rối loạn trong cuộc tranh giành quyền lực, tháng 5 năm 1964, ông được trả tự do. Ông được tổ chức bố trí đưa ra miền Bắc chữa bệnh. Sau khi thẩm tra, ông được phục hồi công tác và được phân công về Bộ Công an phụ trách Cục Kỹ thuật.
Năm 1969 - 1972, ông được điều động lại vào miền Nam làm Ủy viên Ban An ninh miền Nam.
Năm 1972 - 1976, làm Thường vụ Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định.
Ông là cấp trên trực tiếp của các nhà tình báo nổi tiếng: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn. Chính ông cùng Mai Chí Thọ đã quyết định đưa Phạm Xuân Ẩn sang Hoa Kỳ học báo chí vì thấy Phạm Xuân Ẩn có khiếu hài hước, dễ hòa nhập với tính cách người phương Tây.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976), ông được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, phân công làm Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), ông tiếp tục được bầu lại vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và được phân công làm Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Hà Nội.
Tháng 11/1983, Đồng chí được cử làm Phó Chủ nhiệm thứ nhất Ủy ban Thanh tra Nhà nước.
Cuối năm 1985, làm Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được bầu lại vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, phân công làm Trưởng ban Nội chính Trung ương.
Tháng 9/1991, ông được Bộ Chính trị quyết định thôi giữ chức Trưởng ban Nội chính Trung ương để điều trị bệnh.
Ngày 24 tháng 12 năm 2006, ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.
Năm 2004, Nhà xuất bản Công an nhân dân đã xuất bản cuốn Trần Quốc Hương - Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hải viết về ông.
Ngày 11 tháng 6 năm 2020, ông đã từ trần vào lúc 10h10 phút tại bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh
4. Sự tôn vinh của non sông và bài học lý tưởng truyền đời
Ghi nhận những chiến công đặc biệt xuất sắc và sự cống hiến quên mình vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Trần Quốc Hương. Tấm gương sáng ngời của người anh hùng mãi mãi là niềm tự hào của quê hương Ninh Bình và dân tộc Việt Nam, là bài học lịch sử vô giá soi đường cho các thế hệ trẻ hôm nay noi gương học tập và noi theo.



