Anh hùng Trần Văn Lâm và hành trình vượt tuổi, nhét đá để ra trận
Đỗ Khánh Linh


Đứng trước làn sóng xâm lược của kẻ thù, tinh thần yêu nước và chí căm thù giặc đã thúc đẩy nhiều thanh niên Việt Nam tìm mọi cách lên đường ra chiến trường. Trong số đó có Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Lâm, quê tại thôn Mậu Tài, xã Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng khi cả cha và anh trai đều tham gia kháng chiến chống Pháp, ông sớm nuôi dưỡng ý chí nối bước người thân bảo vệ Quê hương. Năm 1966, khi mới tròn 15 tuổi và chưa đủ điều kiện về độ tuổi lẫn cân nặng, ông đã chủ động khai tăng tuổi đồng thời nhét thêm đá vào trang phục để vượt qua vòng kiểm tra thể lực, thành công gia nhập Tiểu đoàn 96 thuộc Bộ tư lệnh 500.
Giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1973, ông được điều động về Trung đoàn 83 Công binh, Quân khu 5, trực tiếp làm nhiệm vụ mở đường và bảo đảm mạch máu giao thông tại các địa bàn trọng điểm như Trị Thiên, Tây Nguyên, Quảng Nam và Đà Nẵng. Trong những năm tháng rà phá bom mìn nguy hiểm, ông đã trực tiếp tham gia hàng chục trận đánh và xử lý thành công hàng nghìn quả bom, mìn các loại. Tiêu biểu vào những năm 1970 - 1971 tại huyện Hướng Hóa (Quảng Trị), bất chấp thời tiết khắc nghiệt và mật độ bom đạn dày đặc, ông cùng đồng đội vẫn kiên trì bám sát địa bàn, rà gỡ tỉ mỉ từng mét đất để mở đường an toàn cho lực lượng bộ binh tiến quân.
Không chỉ dũng cảm trong chiến đấu, người lính công binh trẻ còn liên tục đưa ra những phát kiến thực tiễn hiệu quả. Năm 1972, trong đợt mở đường phục vụ đánh chiếm quận lỵ Quế Sơn (phía Tây Đà Nẵng), ông đã đắp đập ngăn dòng suối kế bên để mượn sức nước vận chuyển đất đá, giúp tăng 150% năng suất làm việc và tiết kiệm đáng kể sức lực cho chiến sĩ. Ngoài ra, ông còn nảy ra ý định mài nhọn thông nòng súng AK-47 để làm dụng cụ dò mìn thay thế cho thiết bị thiếu thốn, sáng kiến này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trong toàn đơn vị. Bên cạnh nhiệm vụ chuyên môn, khi được giao quán xuyến công tác hậu cần, ông luôn tận tụy chuẩn bị những bữa ăn nóng hổi và không ngại gánh cơm ra tận vị trí thi công cách xa vài kilômét cho đồng đội, thậm chí tranh thủ ban đêm ra công trường làm đường cùng anh em.
Nhờ những cống hiến vượt bậc, ông đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như 2 Huân chương Chiến công giải phóng Hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng Hạng Ba, cùng 7 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ quyết thắng. Ngày 6-11-1978, ông chính thức được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau 25 năm cống hiến trong quân ngũ, ông xuất ngũ năm 1991 với cấp bậc Thiếu tá. Trở về địa phương, ông tiếp tục giữ nhiều vị trí lãnh đạo như Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Nga Sơn, Bí thư Chi bộ tiểu khu Ba Đình, và Chủ tịch Hội Người cao tuổi. Tại đây, ông để lại nhiều dấu ấn qua các mô hình thiết thực như Câu lạc bộ "Cựu quân nhân", "Đoạn đường tự quản", cũng như thành lập Câu lạc bộ "Liên thế hệ tự giúp nhau" góp phần thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng.



