ANH HÙNG TRANG BÁ PHÚC (SÁU PHÚC) – HUYỀN THOẠI LỰC LƯỢNG THANH NIÊN XUNG PHONG GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VỚI TINH THẦN QUÊN MÌNH VÌ THƯƠNG BINH
ANH HÙNG TRANG BÁ PHÚC (SÁU PHÚC) – HUYỀN THOẠI LỰC LƯỢNG THANH NIÊN XUNG PHONG GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VỚI TINH THẦN QUÊN MÌNH VÌ THƯƠNG BINH
ANH HÙNG TRANG BÁ PHÚC (SÁU PHÚC) – HUYỀN THOẠI LỰC LƯỢNG THANH NIÊN XUNG PHONG GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VỚI TINH THẦN QUÊN MÌNH VÌ THƯƠNG BINH
Anh hùng Trang Bá Phúc sinh ra trong một gia đình nông dân tại ấp Minh Cường A, xã Ninh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang — một miền quê giàu truyền thống cách mạng. Ngày 3 tháng 2 năm 1964, ở tuổi 17, anh đã thoát ly gia đình để tham gia công tác tại Quân y huyện An Biên.
Đến năm 1966, anh chính thức gia nhập lực lượng TNXP thuộc Đội 239 Nguyễn Việt Khái 1 tỉnh Cà Mau, nằm trong đội hình Tổng đội TNXP Giải phóng miền Nam (R), hoạt động tại chiến trường khốc liệt Miền Đông Nam Bộ. Cũng tại đây, vào ngày 2 tháng 3 năm 1966, anh vinh dự được kết nạp vào Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Bằng sự năng nổ và bản lĩnh kiên cường, anh lần lượt được đề bạt từ Chi đội phó lên Chi Đội trưởng, Đội phó rồi Đội trưởng Đội 239 Nguyễn Việt Khái 1, trước khi được điều động sang lực lượng Công an vũ trang T1 (Khu Miền Đông Nam Bộ) vào năm 1971.
Suốt 5 năm ròng rã sát cánh cùng Bộ đội chủ lực, địa bàn hoạt động của Trang Bá Phúc và đồng đội trải dài rộng khắp từ Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ (Khu 6) sang tận Campuchia và Hạ Lào. Anh đã trực tiếp phục vụ 147 trận đánh cấp tiểu đoàn, trung đoàn và tham gia vào những chiến dịch lớn đi vào lịch sử như Lộc Ninh, Dầu Tiếng, Nhà Đỏ, Bông Trang, Cần Lê, Cần Đâm, Căm Xe. Đội TNXP Nguyễn Việt Khái 1 do anh chỉ huy đã phục vụ đắc lực cho Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 9 Quân Giải phóng Miền, sát cánh bên bộ đội cùng chung chiến hào, cùng chung trận địa với nhiệm vụ tiếp đạn, chuyển thương binh, tử sĩ.
Đến năm 1969, đơn vị anh phối thuộc với các Đoàn 81, 82, 83, 70 Cục Hậu cần quân giải phóng thực hiện nhiệm vụ mở đường, làm cầu, đào hầm hào, vận chuyển vũ khí, lương thực cung cấp cho bộ đội, chuyển thương binh về tuyến sau và chiến đấu bảo vệ kho tàng. Góp phần bẻ gãy các cuộc hành quân phản công chiến lược của Mỹ như trận càn Attleboro (9/1966), Cedarfalls (1/1967). Đặc biệt là chiến dịch đánh bại cuộc càn Tây Ninh với 45.000 quân Mỹ hòng tiêu diệt cơ quan đầu não cách mạng, và chiến dịch Tổng tiến công Mậu Thân 1968 đánh vào Sài Gòn, chiến dịch "Chen La II" ở Campuchia.
Những con số thống kê về những đóng góp của anh và Đội 239 khiến bất cứ ai cũng phải nghiêng mình kính phục:
Vận chuyển thương binh: Trực tiếp vào trận địa chăm sóc, băng bó và bảo vệ an toàn cho 2.120 thương binh về tuyến sau.
Tiếp tế & Hậu cần: Thồ, tải 2.435 tấn vũ khí (trong đó trực tiếp tại mặt trận là 1.015 tấn) và 3.140 tấn lương thực cung cấp cho bộ đội.
Xây dựng công trình: Đào 10.450m³ đất đá để xây dựng 2 bệnh viện dã chiến (K79A, K23), 354 hầm phẫu thuật và 1.400 công sự; làm 15km đường vận chuyển, bắc 4 cây cầu qua suối; cùng Tổng đội đón tiếp, nuôi dưỡng 3.500 cán bộ chiến sĩ được địch trao trả.
Trực tiếp chiến đấu: Tham gia 15 trận đánh bảo vệ thương binh, kho tàng, diệt 115 tên địch (có 25 tên Mỹ) và phá hủy 1 xe bọc thép M113 của Mỹ.
Không chỉ mưu trí trong chỉ huy và gan dạ trong chiến đấu, Trang Bá Phúc còn là hiện thân cao đẹp nhất của tinh thần "Nhịn cơm, nhường nước uống, hầm trú ẩn, thuốc, bông băng... cho thương binh". Tấm lòng vàng và sự hy sinh quên mình của anh đã được lưu dấu qua những câu chuyện phi thường, lấy đi nước mắt của biết bao đồng đội:
Trong đợt 1 Tổng tấn công Mậu Thân năm 1968, với nhiệm vụ là Đội phó chỉ huy 1 Chi đội chuyển 10 thương binh nặng từ Long Bình (ven đô Sài Gòn) về hậu cứ gần sông Tha La (Tân Châu — Tây Ninh). Anh đã thức trắng 7 đêm liền cùng đồng đội khiêng thương vượt qua nhiều con đường gần đồn bốt giặc. Trên đường đi bị pháo địch bắn chặn, anh bị nhiều mảnh pháo ghim vào người, máu ra rất nhiều.
Thay vì dùng băng cứu thương của đơn vị, anh xé chiếc khăn choàng của mình tự băng bó, kiên quyết nhường thuốc men cho thương binh và nhắc nhở y tá: "Thuốc, bông băng còn ít, phải ưu tiên cho thương binh nặng". Khi thấy anh đuối sức, đồng đội đem võng đến để khiêng, anh khoát tay từ chối: "Đơn vị ít người phải khiêng 10 thương binh nặng, đường xa phải đi trong đêm tối, nếu các đồng chí khiêng tôi thì còn ai để khiêng thương binh!".
Anh tự c.h.ặ.t cây làm gậy để đi và luôn nhắc nhở anh em bảo vệ thương binh. Khi đưa thương binh về đến bệnh viện K71 an toàn thì anh ngất xỉu. Đồng đội cởi áo ra mới bàng hoàng phát hiện anh bị 7 vết thương khá sâu, mất máu nghiêm trọng. Vừa tỉnh lại, câu đầu tiên anh hỏi ngay là: "Các đồng chí thương binh có ai bị làm sao không?". Anh chỉ xin nghỉ 1 tuần rồi lại xin ra viện để tiếp tục phục vụ chiến đấu.
Ngày 12 tháng 2 năm 1968, tại Thuận Giao (Thuận An), Đội 239 TNXP chuyển 30 thương binh từ nội đô ra phía sau. Khi trời sáng, đơn vị phải dựa vào hệ thống “Hầm Nhật” để trú ẩn thì bị địch phát hiện, cho xe tăng tiến đánh. Quyết không để giặc chạm vào thương binh, Trang Bá Phúc chỉ huy đơn vị kiên quyết đánh trả.
Do hầm sâu hạn chế tầm nhìn quân địch, anh đã sáng tạo ra cách đánh vô tiền khoáng hậu: Thay phiên nhau 1 người đứng dưới làm trụ chịu lực, 1 người đứng lên vai nhô lên khỏi miệng hầm, chờ xe tăng địch đến gần dùng thủ pháo ném vào xích xe, và dùng súng AK bắn quân bộ binh địch tiến vào. Anh là người xông lên đánh đợt đầu tiên, cùng đồng đội bẻ gãy nhiều đợt tấn công, tiêu diệt nhiều tên Mỹ, phá hủy 1 xe tăng buộc chúng phải lùi ra xa kêu chi viện không quân. Trận chiến sinh tử ấy đơn vị có 5 đội viên hy sinh, 3 người bị thương (trong đó có anh bị thương khi vết thương cũ chưa lành), nhưng đã bảo vệ vẹn toàn mạng sống cho 30 thương binh dưới hầm.
Anh hùng Trang Bá Phúc (Sáu Phúc) là một tượng đài bất tử, một biểu tượng sáng ngời cho Chủ nghĩa anh hùng cách mạng của lực lượng TNXP Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn Tổng đội 3 năm liên tục, được tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Hai, Huân chương Chiến công hạng Ba, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ Quyết thắng, cuộc đời anh là một điểm sáng lan tỏa khắp chiến trường về tinh thần yêu nước, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân chính là sự tôn vinh sâu sắc nhất của Đảng và Nhà nước dành cho người con kiên trung của đất Kiên Giang — người đã viết nên huyền thoại vĩ đại về tình đồng chí "quyết tử cho đồng đội quyết sinh".


