Anh hùng Trương Đức Hai - Huyền thoại bắn tỉa và bản lĩnh can trường qua hai thời chiến bại
Bước ra từ vĩ tuyến lửa Gio Linh với danh hiệu “xạ thủ bắn tỉa số 1”, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trương Đức Hai là hiện thân của ý chí kiên trung, bất khuất. Gác lại những chiến công lẫy lừng diệt ác trừ gian thời chiến, khi trở về giữa đời thường, người lính can trường ấy lại một lần nữa chiến thắng những nghịch cảnh ngặt nghèo của số phận, xứng danh bộ đội cụ Hồ “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.
Người chiến sĩ giao liên năm xưa nay đã là một vị Anh hùng chính danh của dân tộc. Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, ông từng được đồng đội và kẻ thù nhắc đến với danh xưng đầy nể sợ: “xạ thủ bắn tỉa số 1”. Hiện lên trước mắt chúng tôi là một cụ ông với vẻ ngoài rắn rỏi, đĩnh đạc và đầy bản lĩnh can trường của một bậc khai quốc công thần.
Nở nụ cười hiền từ và đôn hậu khi chúng tôi gợi hỏi về những trang sử hào hùng trong quá khứ, ông Trương Đức Hai (thường gọi là ông Hai) khiêm nhường bộc bạch: “Chiến tranh đã lùi xa lâu lắm rồi cháu ạ, có những điều lịch sử đã ghi chép lại, mình cũng không tiện tự nhắc lại trong bối cảnh hòa bình này. Với tôi, được may mắn sống sót đến ngày hôm nay đã là một niềm hạnh phúc lớn lao lắm rồi”.
Dẫu ông khiêm tốn không muốn nhắc nhiều về mình, nhưng ký ức về những ngày tháng vào sinh ra tử, kiên cường đánh Mỹ - Ngụy vẫn chưa một khắc nào mờ phai trong tâm trí của người lính già.
Vĩ tuyến lửa Gio Linh và những chiến công xuất thần
Ông Trương Đức Hai sinh ra và lớn lên tại làng Hải Chữ, xã Trung Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị – một mảnh đất địa đầu nằm ngay sát phía bờ Nam của con sông Bến Hải lịch sử. Được nuôi dưỡng trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, tận mắt chứng kiến nỗi đau đất nước bị chia cắt đôi miền cùng sự tàn bạo, dã man của kẻ thù đối với xóm làng, bà con thân thuộc, lòng căm thù trong ông ngày một lớn. Ông quyết tâm tiếp bước thế hệ cha ông, cầm súng lên đường đánh đuổi giặc Mỹ.
Trong giai đoạn từ năm 1966 đến năm 1972, chiến trường Gio Linh trở thành một trong những mặt trận ác liệt và đẫm máu nhất. Tại đây, để ngăn chặn triệt để sự chi viện vũ khí, lương thực từ miền Bắc vào miền Nam, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai không chỉ liên tục ném bom bắn phá hủy diệt mà còn thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn cực kỳ thâm độc, điển hình là việc thiết lập hệ thống hàng rào điện tử McNamara dày đặc.
Năm 1965, khi vừa trưởng thành, ông chính thức tham gia làm cơ sở cách mạng bí mật, đảm nhiệm vai trò giao liên, rồi sau đó tham gia vào lực lượng dân quân du kích xã Trung Hải. Ông đã cùng đồng đội kiên cường bám đất chiến đấu bảo vệ quê hương, tổ chức nhiều trận đánh chống càn quét kịch liệt nhằm bẻ gãy âm mưu đánh ra dọc tuyến sông Bến Hải của địch.
Vào năm 1967, cục diện chiến trường trở nên vô cùng căng thẳng khi địch liên tục mở các trận càn quét quy mô lớn vào các xã Trung Giang, Trung Hải, Trung Sơn hòng ép dân, đưa bà con vào các trại tập trung kiểm soát. Đến năm 1968, ông Trương Đức Hai được cấp trên điều động tăng cường về xã Gio Mỹ, lần lượt giữ chức vụ Trung đội trưởng rồi vươn lên làm Xã đội trưởng. Trên cương vị mới, ông đã chỉ huy lực lượng dân quân du kích hai xã Gio Mỹ và Trung Giang phối hợp chặt chẽ, tạo thành thế trận bao vây cô lập Căn cứ 31 của địch.
Khi Chiến dịch Mậu Thân bùng nổ, Căn cứ 31 án ngữ toàn bộ khu vực phía Đông chạy từ Cửa Tùng vào, được xem là một mắt xích phòng thủ trọng yếu của quân Ngụy. Trước tình thế đó, lực lượng du kích dưới sự bám nắm của ông Hai đã kiên trì bao vây, đánh chống càn liên tục, siết chặt vòng vây không cho quân địch rút ra khỏi cứ điểm. Địch càn quét đến đâu, du kích lập tức phối hợp cùng bộ đội chủ lực chặn đánh đến đó. Bản thân ông Hai đã trực tiếp tham gia bắn tỉa hàng trăm trận, bẻ gãy nhiều mũi tiến công của giặc suốt cả năm 1968.
“Thời điểm đó, hàng ngày địch buộc phải dùng máy bay trực thăng để tiếp tế, thả lương thực xuống Căn cứ 31 nhưng đều bị lực lượng ta đón lỏng và bắn hạ. Đến cuối năm 1968, đầu năm 1969, căn cứ này bị bóp nghẹt, không chịu nổi nhiệt đành phải rút chạy. Hành lang chiến lược phía Đông từ Cửa Tùng vào Cửa Việt của ta nhờ đó trở nên thông thoáng, buộc địch phải lùi sâu về co cụm tại căn cứ Dốc Miếu. Mục tiêu tối thượng của chiến dịch là không cho địch đánh ra, mở đường máu cho quân ta đánh sâu vào vùng Cửa Việt và Triệu Phong”, ông Hai bồi hồi kể lại.
Những năm tháng bám trụ đánh địch tại đất Gio Mỹ, biết bao đồng đội kề vai sát cánh của ông đã anh dũng hy sinh, bản thân ông cũng không dưới mười lần đối mặt với lằn ranh sinh tử. Đã có 2 lần ông Hai bị thương rất nặng, tưởng chừng không qua khỏi, nhưng cứ hễ vết thương vừa lành, ông lại nằng nặc xin ra trận vì quyết tâm đánh đuổi kẻ thù.
Đến cuối năm 1969, Huyện đội Gio Linh tiếp tục tăng cường ông Hai về xã Gio Lễ – một địa bàn nằm ngay trên tuyến hàng rào điện tử McNamara. Nơi đây bị địch kìm kẹp, lùng sục gắt gao, chúng điên cuồng bắt bớ, tra tấn dã man những người làm cách mạng.
Mục tiêu tác chiến chủ yếu của lực lượng ta lúc này là tiêu diệt lính địa phương quân, lính bảo an dân vệ và đặc biệt là biệt kích lính “Dơi - nhện” – những kẻ chuyên rình rập, phục kích ban đêm để cắt đứt liên lạc giữa lực lượng chính trị của ta với quần chúng nhân dân. Bằng sự mưu trí, quả cảm và gan dạ, ông Hai đã thường xuyên bí mật bám sát địa bàn, bám dân để xây dựng vững chắc các cơ sở cách mạng nằm vùng. Nhiều lần, người chiến sĩ biệt động ấy đã táo bạo cải trang thành sĩ quan thủy quân lục chiến, lính cộng hòa hoặc lính địa phương quân để hiên ngang đột nhập thẳng vào các sào huyệt của địch, nổ súng tiêu diệt những tên ác ôn đầu sỏ ngay giữa thanh thiên bạch nhật. Ông Hai khẳng định, đây chính là những năm tháng gian khổ, thử thách nhất trong cuộc đời, ông đã trực tiếp tham gia hàng trăm trận phục kích, phản phục kích khốc liệt, diệt ác trừ gian, quyết tâm không để địch dập tắt phong trào cách mạng của địa phương.
Thời gian sau, ông Hai lại tiếp tục nhận lệnh điều động về tăng cường cho xã Gio Sơn – nơi bấy giờ đã bị coi là “vùng trắng” cơ sở cách mạng, do toàn bộ người dân tại đây đã bị địch cưỡng bức, đưa vào khu tập trung Quán Ngang. Tại địa bàn mới này, ông đã tổ chức thành công nhiều trận đánh xuất thần, tiêu hao đáng kể sinh lực địch. Đến năm 1972, bước vào chiến dịch giải phóng, ông đã cùng đơn vị Đại đội C4 bộ đội địa phương Gio Linh nổ súng đánh sập chi khu Quán Ngang, đập tan ách kìm kẹp và giải thoát toàn bộ người dân ra khỏi khu tập trung. Ngay sau khi quê hương được giải phóng, ông vinh dự được cử về làm Chủ tịch xã Gio An, trực tiếp lãnh đạo công tác đưa dân trở về vùng trắng, tái thiết quê hương và xây dựng lại cuộc sống mới từ đống đổ nát.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc và chiến công vang dội trên chiến trường, ông Hai đã được Bộ chỉ huy mặt trận tặng thưởng 6 danh hiệu cao quý “Dũng sĩ diệt Mỹ”, danh hiệu “Dũng sĩ ưu tú”, cùng hàng chục Huân, Huy chương các loại và nhiều Bằng khen, Giấy khen của các cấp.
Khí chất người lính giữa giông bão thời bình
Chiến thắng trở về với vinh quang lẫy lừng, thế nhưng cuộc sống đời thường của người cựu chiến binh Trương Đức Hai lại phải đối mặt với biết bao thăng trầm và giông bão. Người vợ tào khang của ông sau 13 năm chống chọi đằng đẵng với căn bệnh nan y quái ác đã không thể qua khỏi, bỏ lại ông cùng 4 đứa con thơ dại. Một mình người lính mang đầy thương tật trên mình phải đứng mũi chịu sào, vừa làm cha vừa làm mẹ, chèo lái con thuyền gia đình và lam lũ nuôi các con ăn học. Đó là giai đoạn cuộc sống lâm vào cảnh kiệt quệ, nghèo khó cùng cực, song với bản lĩnh sắt đá và khí chất kiên cường của một người lính đã từng đi qua mưa bom bão đạn, ông tự răn mình không bao giờ được phép gục ngã trước số phận.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu theo quy định, nhưng do hoàn cảnh gà trống nuôi con quá ngặt nghèo, ông Hai đã chủ động làm đơn xin nghỉ việc sớm để có toàn bộ thời gian lo cho các con ăn học thành tài. Để tìm lối thoát kinh tế cho gia đình, ông đã mạnh dạn vay mượn vốn liếng từ bạn bè, đồng đội cũ để đứng ra thành lập một công ty xây dựng tư nhân. Ông tâm sự rằng, việc lập doanh nghiệp cốt là để bản thân tự đứng vững trước khó khăn, tự lực cánh sinh và có thêm điều kiện để giúp đỡ những người bạn chiến đấu có hoàn cảnh ngặt nghèo, chứ bản thân tuổi đã cao, người mang đầy thương tích của chiến tranh, vốn liếng lại không có nên không dám mơ làm lớn.
Ghi nhận những cống hiến đặc biệt to lớn và sự hy sinh cao cả của ông đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước đã trang trọng quyết định phong tặng danh hiệu cao quý nhất: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho ông Trương Đức Hai. Nhận phần thưởng vinh quang này, người xạ thủ năm xưa vẫn luôn tâm niệm và nhắc nhở bản thân: “Để có được danh hiệu Anh hùng như ngày hôm nay, trước hết và trên hết là nhờ vào sự đùm bọc, cưu mang che chở của bà con nhân dân, nhờ sự hy sinh xương máu vô bờ bến của đồng chí, đồng đội – những người đã mãi mãi nằm lại dưới lòng đất mẹ vì sự bình yên của Tổ quốc”.
Ở tuổi xế chiều, khi nhìn lại chặng đường gian truân đã qua, ông Hai mỉm cười mãn nguyện chia sẻ rằng, gia tài lớn nhất và vô giá nhất của cuộc đời ông hiện nay là cả 4 người con đều đã được học hành thành tài, có công ăn việc làm ổn định và là những công dân có ích cho xã hội. Ông luôn xem đó là nguồn biệt dược, là niềm động viên to lớn nhất để ông tiếp tục sống vui, sống khỏe và cống hiến trọn vẹn những ngày tháng ý nghĩa cho cuộc đời.



