Anh hùng Ung Văn Khiêm
Miền Tây Nam Bộ, với những dòng sông nặng phù sa, những vườn cây trái xum xuê và tinh thần thượng võ, luôn là cái nôi sản sinh ra những nhân tài kiệt xuất, những người con dũng cảm gánh vác sứ mệnh cứu nước. Trong số đó, Đồng chí Ung Văn Khiêm (1910 – 1991), quê hương Long Xuyên (nay là An Giang), tỏa sáng như một ngọn hải đăng của lòng kiên trung và trí tuệ cách mạng. Cuộc đời ông là bản anh hùng ca về sự cống hiến trọn vẹn, từ một thanh niên yêu nước trở thành nhà lãnh đạo cao cấp, nhà ngoại giao xuất sắc của đất nước Việt Nam độc lập.
Ung Văn Khiêm sinh ra tại làng Tấn Đức, huyện Chợ Mới, trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Chính tinh thần bất khuất của ông nội là người từng khai hoang lập ấp và người cha từng đi theo Trương Định chống Pháp, đã hun đúc nên khí phách của người chiến sĩ tương lai.
Tuổi thơ của Ung Văn Khiêm gắn liền với ruộng đồng nhưng cũng sớm tiếp cận với ánh sáng tri thức. Khi theo học tại Trường Thành Chung Cần Thơ, nơi hội tụ của tinh hoa miền Tây, ngọn lửa yêu nước trong ông bùng cháy mạnh mẽ. Năm 16 tuổi (1926), ông đã trở thành thủ lĩnh các cuộc bãi khóa, dùng sức trẻ phản đối chế độ thực dân Pháp nhân sự kiện nhà yêu nước Phan Chu Trinh qua đời. Hành động "nổi loạn" đầy chính nghĩa này đã khiến ông bị đuổi học, nhưng lại mở ra cánh cửa lớn hơn: Con đường dấn thân vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Năm 1927, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đến năm 1929, với trí tuệ và sự nhiệt thành, ông được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham gia lớp huấn luyện chính trị do chính Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Chính tại đây, tầm nhìn của ông được mở rộng, ý chí cách mạng được tôi luyện sắc bén, và ông trở thành một trong những người sáng lập An Nam Cộng sản Đảng, đặt nền móng vững chắc cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
Thời kỳ từ 1931 đến 1936, ông bị thực dân Pháp bắt giam tại Khám Lớn Sài Gòn và bị đày ra Côn Đảo được mệnh danh là địa ngục trần gian. Nơi đây không dập tắt được ý chí của người chiến sĩ cộng sản. Trong lao tù, ông cùng các đồng chí biến nhà tù thành trường học, rèn luyện lý luận và phẩm chất cách mạng. Ra tù, ông tiếp tục hoạt động trong Mặt trận Bình dân, tranh đấu công khai đòi dân sinh, dân chủ cho đồng bào. Năm 1945, Ung Văn Khiêm trở thành đại biểu tham dự Quốc dân Đại hội tại Tân Trào. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ông giữ trọng trách Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại chiếm Nam Bộ. Trong hai cuộc kháng chiến, ông lần lượt giữ các vị trí quan trọng như Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ và Ủy viên Trung ương Cục miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đảng bộ và nhân dân Nam Bộ đã đoàn kết chiến đấu, giữ vững từng tấc đất, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, đồng chí Ung Văn Khiêm tiếp tục cống hiến ở cấp cao của Đảng và Nhà nước. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II và khóa III. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1961 - 1963): Trong vai trò này, ông đã thể hiện bản lĩnh của một nhà ngoại giao tài ba, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế, đấu tranh không mệt mỏi bảo vệ chủ quyền quốc gia. Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1963 - 1971): Trong công tác nội chính, ông được ca ngợi bởi sự nguyên tắc nhưng đầy nhân văn. Ông không chỉ quản lý công việc một cách hiệu quả mà còn thể hiện tấm lòng nhân hậu, bao dung đối với đồng chí, đồng bào.
Thành tựu lớn nhất của Ung Văn Khiêm chính là sự cống hiến trọn đời cho sự nghiệp độc lập và thống nhất đất nước. Để ghi nhận những đóng góp to lớn đó, ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý, tiêu biểu là Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc, và Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
Vẻ đẹp của đồng chí Ung Văn Khiêm không nằm ở quyền uy mà ở sự thanh cao và khiêm nhường. Vẻ đẹp Trí tuệ, ông là người học rộng, có tầm nhìn xa, luôn phân tích tình hình một cách khoa học, sắc sảo, là trụ cột lý luận và chính trị cho các cấp lãnh đạo. Vẻ đẹp Đạo đức, ông là tấm gương về lối sống trong sạch, giản dị. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhận xét về ông: “Nếu có một người có quyền mà không thích sử dụng quyền, phải nói đó là đồng chí Ung Văn Khiêm.” Sự khiêm tốn, tận tụy, không màng danh lợi chính là nét đẹp cao cả nhất của người chiến sĩ cộng sản xuất thân từ đất Phương Nam. Vẻ đẹp Tình người, suốt cuộc đời hoạt động, ông luôn giữ vững tình yêu thương sâu sắc với nhân dân, là chỗ dựa tinh thần cho đồng bào, đồng chí trong những thời khắc gian nan nhất.
Đồng chí Ung Văn Khiêm, người con ưu tú của An Giang và cả vùng Tây Nam Bộ, đã mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng của lòng kiên trung, trí dũng song toàn. Tên tuổi và những cống hiến của ông không chỉ là niềm tự hào của quê hương mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.



