Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng Uông Xuân Lý

Ông là chiến sĩ đặc công Rừng Sác huyền thoại, ông đã trực tiếp tham gia nhiều trận đánh rung chuyển Sài Gòn

Hải Phòng29/03/2026Đoàn xã Kiến Hưng (Đoàn xã Kiến Hưng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh năm Canh Thìn (1940), tốt nghiệp trường CNKT Hoà Bình năm 22 tuổi, chàng lái máy trẻ quê Sơn Phúc - Hương Sơn đã lặn lộn với đất đá và núi rừng để làm đường số 6 Điện Biên đi Tây Trang, Chờ Bờ đi Mộc Châu, rồi làm sân bay quân sự Đa Phúc, đập Đại Lải, làm đường tránh từ Công trình thuỷ điện Thác Bà đi Đoan Hùng (Phú ThọP). Tháng 5 - 1967, ông được tăng cường về xây dựng lực lượng thi công cơ giới của tỉnh Hà Tĩnh nhằm đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của địch. Ông được giao nhiệm vụ làm tổ trưởng tổ máy gạt, thuộc Đội thi công cơ giới của Ty Giao thông Hà Tĩnh.

Năm 1968, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, Hà Tĩnh là một trong những tuyến lửa của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Ngã Ba Đồng Lộc có vị trí rất quan trọng trong mạng lưới giao thông Bắc ă Nam trở thành trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ. Chúng muốn biến ngã ba thành một bãi hoang không có một bóng người, không một chuyến xe qua, thành điểm chết. Trước tình hình đó, ngày 10-5-1968, Ban chỉ huy giải toả Đồng Lộc được thành lập. Giữa tháng 4-1968, đơn vị thi công cơ giới của ông Xuân Lý cũng được gấp rút điều động về đảm bảo giao thông tại khu vực trọng yếu này. Riêng Tổ máy gạt do ông làm Tổ trưởng được giao nhiệm vụ đảm bảo giao thông tại khu vực trọng yếu nhất: Ngã ba đồng Lộc. Và tại nơi đây, ông và đồng đội - những công nhân giao thông, thanh niên xung phong đã lập nên nhiều kỳ tích trên mặt trận đảm bảo giao thông, góp phần làm nên những chiến công huyền thoại của quân và dân Hà Tĩnh tại Ngã ba lịch sử này.

Tại vị trí được coi là chảo lửa núi bom này, hàng ngày máy bay địch thường xuyên quần đảo, bắn róc két, ném bom bi, bom sát thương, bom từ trường, bom nổ chậm; ban đêm lại thả pháo sáng dò tìm lực lượng của ta để huỷ diệt.

Ngày 13 -6-1968, tại đầu bắc Cầu Tối địch thả 1 loạt bom nổ chậm, công binh đã tập trung rà phá nhưng còn 2 quả bom nằm gần nhau chưa phá được. Trước tình hình đó, phương án được đưa ra là dùng máy ủi rà bom, vừa dò xét loại bom, nếu không phải là bom từ trường thì cho máy băng qua và thông xe khẩn trương trước giờ bom nổ. Tình huống trở nên căng thẳng, anh em trong tổ đều xung phong nhận trách nhiệm về mình. Là người có kỹ thuật, là tổ trưởng nên ông Xuân Lý nhận trách nhiệm đầy hiểm nguy

Tổ máy gạt của Uông Xuân Lý ở Ngã ba Đồng Lộc. Ảnh: TL

này. Lên xe, ông nhanh chóng cho máy rồ ga tiến về phía 2 quả bom. Lợi dụng pháo sáng, ông Xuân Lý cho máy tiến gần quả bom hơn. Sau gần nữa tiếng đồng hồ cho máy tiếp cận gần quả bom rồi lùi nhanh, quả bom vẫn lì lợm nằm đó không chịu nổ. Trong tình huống đó, một ý nghĩ vụt đến trong ông: phải cho máy tiếp xúc trực tiếp với 2 quả bom. Nếu bom nổ, chấp nhận hy sinh còn nếu bom không nổ, sẽ đẩy ra khu vực an toàn. ng cho máy tiến lên, hạ thấp lưỡi gạt, tăng mạnh ga nhằm thẳng cọc tiêu đẩy tới. Quả bom bị đẩy bật ra khỏi lòng đất, vẫn không phát nổ. Không còn thời gian lưỡng lự, ông cho máy tiến lên và đẫy quả bom ra xa lòng đường. Thời gian trôi từng phút chậm chạp, căng thẳng. Toàn tổ máy và những người làm nhiệm vụ hồi hộp, nín thở. Khi quả bom thứ nhất được đẩy ra xa cách đường chừng 30 m, Uông Xuân Lý tiếp tục gạt quả bom thứ hai và cứ như thế sau một tiếng đồng hồ, 2 quả bom đã cách con đường dã chiến chừng 30- 50m trong tiếng reo mừng và những vòng tay ôm chặt của đồng đội, trả lại con đường cho đoàn xe vận tải 100 chiếc chở hàng hoá vũ khí vào Nam đánh giặc. Đó là hai quả bom nổ chậm, một quả nổ sau đó mấy ngày và một quả còn lại mấy tháng sau mới nổ. Thần chết đã không làm gì được Uông Xuân Lý. Ý chí kiên cường của ông đã chiến thắng.

Rời Đồng Lộc, Uông Xuân Lý tiếp tục cùng các đồng nghiệp vào làm đường ở Kỳ Anh, năm 1973 lại về đội xe của Tổng đội TNXP 299 và hết chiến tranh, ông về làm quản lý ở Công ty xây dựng quản lý đường 4 Nghệ Tĩnh. Trong suốt những năm tháng tham gia chiến đấu và lao động trên các mặt trân, ông đã nhiều lần bị thương. Với thương tật 56% trên người, ông luôn bị hành hạ bởi những cơn đau, nhất là sau những chuyến đi xa nên chia tỉnh năm 1991, ông được nghỉ hưu. Với những chiến tích, cống hiến của ông trong những năm tháng chiến đấu trên Ngã Ba Đồng Lộc, năm 2010, ông Xuân Lý được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. Thế nhưng, thật trớ trêu, sau bao năm tháng chờ đợi, sắp đến ngày được nhận danh hiệu cao quý thì ông ngã bệnh. Di chứng những lần bị thương, bị sức ép đạn bom ngày xưa đã quật ngã ông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn