ANH HÙNG VIỆT NAM LÝ TỰ TRỌNG
Cuộc đời của anh hùng Lý Tự Trọng là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường của tuổi trẻ Việt Nam. Anh đã hy sinh nhưng câu nói: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể là con đường nào khác” mãi mãi ghi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, trở thành lý tưởng sống và vũ khí chiến đấu, kim chỉ nam hành động của thanh niên Việt Nam qua mọi thời kỳ cách mạng.
ý Tự Trọng tên thật là Lê Hữu Trọng (tên thường gọi là Lê Văn Trọng), sinh ngày 20/10/1914 tại Bản Mạy, tỉnh Nakhon Phanom, Vương quốc Thái Lan[1] (vùng Đông Bắc nước Xiêm, tỉnh Lạc Hòn – địa giới đầu thế kỷ trước) trong gia đình có truyền thống yêu nước. Cha của Lý Tự Trọng là ông Lê Hữu Đạt, quê ở làng Kẻ Vẹt (nay là xã Việt Tiến), huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh[2]; mẹ là bà Nguyễn Thị Sờm quê ở Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Thời kỳ này do phải tránh sự truy lùng gắt gao của bọn thực dân Pháp nên hàng chục nghìn đồng bào yêu nước (phần lớn là miền Trung chủ yếu ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị…) từng nổi dậy theo Phan Đình Phùng đánh Pháp rồi theo Phan Bội Châu tham gia Việt Nam Quang phục Hội để mưu việc “phục quốc” buộc phải tìm đường vượt núi cao Trường Sơn và băng qua Sông Mẹ (Mê Kông) vừa để cuốc cày kiếm sống vừa để tổ chức lực lượng trở về đánh Pháp trong sự chia sẻ, đùm bọc của nhân dân nước bạn.
Tháng 4/1927, Tưởng Giới Thạch tiến hành phản cách mạng ở Thượng Hải, Trung Quốc và giết hại hàng ngàn đảng viên đảng cộng sản, công nhân cách mạng, đồng thời tuyên bố thành lập “Chính phủ quốc dân” đại diện cho quyền lợi của đại địa chủ, đại tư sản mại bản Trung Quốc. Khi khởi nghĩa Quảng Châu nổ ra, các đồng chí Việt Nam đang học tập tại trụ sở của Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu và Trường Quân sự Hoàng phố trong đó có Lý Tự Trọng tham gia trong các lực lượng cách mạng. Sau khởi nghĩa thất bại, nhóm thanh niên Việt Nam bị bắt giam, một số chiến sĩ, cán bộ của Hội tạm lánh về nước.Đến giữa năm 1929, tình hình cách mạng có chuyển biến mới. Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam lần lượt ra đời. Lý Tự Trọng được cử về nước hoạt động tại Sài Gòn – Chợ Lớn, tham gia tổ chức các cuộc mít tinh tại Sài Gòn, Hội nghị công nhân Đông Dương, đồng thời đảm nhận nhiệm vụ liên lạc trong và ngoài nước cho Xứ ủy Nam Kỳ. Lý Tự Trọng được giao nhiệm vụ đặc biệt, vận động tập hợp thanh niên trong các nhà máy, trường học để thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản. Với bí danh là Nguyễn Huy, Lý Tự Trọng xin làm công nhân hãng than tại Sài Gòn.Năm 1930, khi Trung ương Đảng về đóng trụ sở tại Sài Gòn, Lý Tự Trọng được làm việc với đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự. Lúc bấy giờ nhiệm vụ của Lý Tự Trọng vừa làm liên lạc giữa cơ sở Đảng trên tàu quốc tế với Xứ ủy Nam kỳ, vừa làm nhiệm vụ liên lạc giữa Xứ ủy Nam kỳ với các cấp bộ đảng ở Sài Gòn – Chợ Lớn. Trung ương Đảng giao nhiệm vụ cho Lý Tự Trọng nghiên cứu tình hình thanh niên ở Sài Gòn – Chợ Lớn để chuẩn bị cho việc thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản.Ngày 08/02/1931, nhân dịp kỷ niệm một năm cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Xứ ủy Nam Kỳ quyết định tổ chức buổi tuyên truyền với nội dung kêu gọi liên minh công – nông, yêu cầu tăng lương, giảm giờ làm. Đồng chí Phan Bôi (bí danh là Quảng) lúc này phụ trách tuyên truyền của xứ ủy, được phân công làm trưởng ban tổ chức, Lý Tự Trọng được phân công làm nhiệm vụ bảo vệ. Khi quần chúng xem đá bóng ở sân bóng C.I.A xong, vừa đổ ra đường, đồng chí Phan Bôi đứng lên diễn thuyết, bọn cảnh sát ập đến, tên mật thám Legrand nhảy vào bắt đồng chí Phan Bôi. Không còn cách nào khác để cứu đồng chí mình, Lý Tự Trọng đã rút súng bắn tên mật thám gục xuống. Trước sự kiện chấn động đó, thực dân Pháp đã ra sức truy lùng và bắt sống được anh.Sau khi bị thực dân Pháp bắt, Lý Tự Trọng bị đưa đi tra tấn và giam giữ lần lượt tại hai nơi là bốt Catinat và Khám lớn Sài Gòn. Dù bị tra tấn vô cùng dã man nhưng địch không khai thác được thông tin gì từ anh, chỉ nói tên anh là Nguyễn Huy. Giam cầm tra tấn ở Khám lớn Sài Gòn một thời gian không thu được kết quả, bọn chúng đưa anh ra xử án. Run sợ trước phong trào cách mạng, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương đã mở một phiên tòa đại hình để xử một chiến sĩ cộng sản Việt Nam chưa đầy 17 tuổi. Lý Tự Trọng đã bị kết án tử hình. Trong những ngày cuối cùng ở xà lim án chém, Lý Tự Trọng vẫn lạc quan yêu đời, tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng. Mặc dù bị xiềng xích nhưng hàng ngày anh vẫn tập thể dục, đọc Truyện Kiều, động viên các bạn trẻ nêu cao ý chí cách mạng. Khí phách hiên ngang của anh đã làm cho bọn cai ngục phải khâm phục và kinh ngạc, chúng gọi anh là “Ông Nhỏ”, “thật là con người gang thép”.Tối ngày 20-11-1931, bọn cai ngục lặng lẽ đưa máy chém đến sát cửa Khám lớn. Lúc này, toàn khám náo động, tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng la hét, tiếng hô khẩu hiệu của hàng nghìn tù nhân kể cả thường phạm vang ra ngoài: “Đả đảo thực dân xử tử anh Trọng”, “Đả đảo thực dân giết hại Nguyễn Huy”, “Trả tự do cho Lý Tự Trọng”. Bọn thực dân ra lệnh báo động, bao vây Khám lớn, cho lính xông vào các nhà giam trói tay, cùm chân tù nhân, nhưng tiếng thét vẫn cứ dồn dập vang lên. Cửa xà lim tử hình mở ra, một lũ lính lăm lăm tay súng vây quanh Lý Tự Trọng. Anh bình tĩnh, ung dung bước đi, miệng hô lớn: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!” “Việt Nam, Việt Nam độc lập muôn năm!” “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!”
Tù nhân trong các nhà giam đồng loạt hô theo. Lát sau, từ cổng Khám lớn Sài Gòn vẳng lại: “Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên, vùng lên…”.
Đó là lời chào của Lý Tự Trọng gửi lại cho đồng bào, đồng chí chúng ta.Sự hy sinh anh dũng của anh trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là lời hiệu triệu cho các thế hệ thanh niên Việt Nam đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nay là Bản Na Chok, xã Nong Yat, huyện Mueang NakhonPhanom. Xiêm là phiên âm tiếng Việt của Siam – tên gọi của đất nước Thái Lan trước năm 1939. Từ năm 1945, Thái Lan lại đổi tên thành Xiêm. Đến năm 1949, Xiêm lại được đổi thành Thái Lan như hiện nay (Theo sách Chân dung Anh hùng Lý Tự trong qua những tư liệu lịch sử – Dương Trọng Phúc) Trước là xã Việt Xuyên, đến năm 2019 theo Nghị quyết số 819/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh, các xã Phù Việt, Việt Xuyên, Thạch Tiến đã được sáp nhập toàn bộ diện tích dân số thành xã Việt Tiến như ngày nay. Ông Cựu Tuấn còn được biết đến với những tên gọi khác như: Nguyễn Huy Tuấn, Hà Huy Tuấn, Nguyễn Cựu Tuấn, Nguyễn Ông Cựu, Ngô Trí Tuấn, Lý Cựu, Lý Tuấn, Lý Dụ. Ông tham gia phong trào Cần Vương dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, bị thực dân Pháp đàn áp, ông cùng những người đồng hương lánh sang Xiêm. Tại vùng đông bắc Xiêm, ông là người đã khai hoang lập “trại cày” giúp bà con người Việt. Ông Cựu Tuấn là đồng hương, đồng chí của ông Lê Hữu Đạt – cha của Lý Tự Trọng. Ông đã nhận Lý Tự Trọng làm con nuôi khi tròn 3 tuổi. Các đồng chí đó là: Hồ Tùng Mậu, Lê Thiết Hùng, Lê Hồng Sơn, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Lý Phương Đức, Lý Phương Thuận, Lý Trí Thông, Lý Tự Trọng,…tham gia trong các lực lượng cách mạng với vai trò khác nhau.



